Laiquangnam giới thiệu
Cẩm Sắt
錦 瑟

Lý Thương Ẩn, 李商隠
Li Shang Yin* ( 813-858)

Phần C  

Phần A
Phần B
Phần C
Lý Thương Ẩn là một nhà thơ Tàu Hán sống vào thời Vãn Đường cách chúng ta hơn 1200 năm. Ông có riêng một dòng thơ viết về tình ái rất xuất sắc qua thể thơ Thất ngôn bát cú luật thi rất đặc trưng của Tàu Hán. Nhiều bài viết của ông rất hay và đôi khi rất khó hiểu vì người đọc có thể suy diễn lung tung về một tình huống nào đó trong cuộc đời ông; mọi suy luận đều có thể đúng; chỉ qua một vài từ ẩn dụ hay một câu thơ ẩn dụ. Nguyễn Du là người hiểu thơ ông bởi Nguyễn Du có nhiều mối quan hệ với ông (1). Nguyễn Du không lạ gì với nhà thơ Lý Thương Ẩn bởi cùng với Đỗ Mục, họ là một cặp nhà thơ rất nổi tiếng vào thời Vãn Đường. Họ được thi nhân Tàu tặng cho cụm từ dễ nhớ, Tiểu Lý Đỗ, tức lớp Lý-Đỗ thuộc lớp hậu sinh sau cặp Lý Đỗ thuộc lớp lớn tuổi hơn, nổi tiếng hơn, sống vào thời Thịnh Đường. Lý-Đỗ lớp lớn là Lý Bạch và Đỗ Phủ. Hai lớp Lý-Đỗ này cách nhau trên dưới 100 năm. Đó là một vinh dự cho ông. Thơ ông được đánh giá cao cho dù khó hiểu bởi nội lực và kiến văn ông rất rộng. Thi tiến sĩ ba lần mới đỗ, nghĩa là ông thuộc dân " cần cù bù thông minh", dân học gạo, học nhiều và đọc rất nhiều, dân chịu khó. Lý Thương Ẩn chịu học, thi đậu tiến sĩ nào đã cam chịu yên phận ra làm quan, ông lại cặm cụi thi tiếp vào lớp hậu tiến sĩ, lớp đào tạo về nghề gìn giữ văn thư, tức lớp mai sau sẽ trở thành Thủ thư. Xưa nay, những người học lớp đào tạo ra làm Thư Viện Trưởng thường có kiến văn "kinh người ". Thời chúng ta, bên Tàu có tên Mao Trạch Đông (Tàu Hán) và bên ta có ông Ngô Đình Nhu tài hoa và mưu mô như thế nào thì chúng ta đều đã biết. Ngoài ra, Lý Thương Ẩn còn được học thêm nghề viết văn thư, viết tấu, viết báo biểu, thế nên thơ văn ông càng khó hiểu với những "dân tay ngang ngày xưa" là vậy, trừ một người, đó là Nguyễn Du thi nhân nhà mình (1). Lý Thương Ẩn đa tình nhưng lại rất yêu vợ bởi tử vi của ông chấm ông trụ tại cung "thân cư thê". Vương Thị là vợ yêu của ông, bà là con một đại quan, là "boss" của ông. Ông già vợ lại là trưởng một trường phái văn học, trong khi ông lại là một con cưng thuộc một trường phái văn học đối nghịch từ thuở hàn vi đói rách trước đó. Thơ ông đa màu sắc và thâm trầm cũng không có gì là lạ đối với chúng ta. Vương Thị đột ngột qua đời sớm, Lý Thương Ẩn về không kịp vào lúc đóng nắp hòm cho bà. Bà mất, đời ông điêu đứng. Sau chừng năm bảy năm sống trong cô đơn với lòng thương nhớ vô biên, ông đi theo bà. Ông chết trẻ khi tuổi đời trên dưới 45. Lòng thương tiếc vô hạn, một loạt bài mang tên "Vô đề" (1) làm ông nổi tiếng. Loạt thơ Vô Đề, là các "bài không tên" vốn đã khó hiểu nhưng còn có thể đọc lướt và kịp hiểu chút chút, riêng bài Cẩm Sắt dưới đây lại càng khó hiểu hơn. Để giảng chỗ còn âm u, người Tàu Hán có cố tật không sao bỏ được, họ rất vui khi "trêu người có ăn học của nước Việt", một trong các trò khỉ đó là họ cố lường gạt được các anh Hán Vườn ấm ớ người Việt nhà mình bằng các huyền thoại mà họ viết bịa về nhân vật đó. Họ thừa biết tính háo danh của người Việt. Hể anh Việt Nam nào đọc được vài ba câu chữ Tàu là hẩy hẩy cái mặt lên, dịch được đôi chữ Tàu ra được chữ Việt, bất luận là thứ rơm rác của Tàu vất bỏ cũng luôn luôn là niềm hãnh diện của người Việt đã dịch các bài ấy. Điển hình?, thử đọc các kinh sách Phật do họ trứ tác đến các thứ truyền thần thoại bá vơ khác đầy dẫy trong các các nhà sách của ta. Và gõ hai chữ "Thơ Đường" là biết. Một khi, anh Tàu Hán không am hiểu một vấn đề nào đó, một ký tự nào đó, ví dụ như khi đọc hai bài "Vô Đề và Cẩm Sắt" này của Lý Thương Ẩn, nhiều anh Tàu Hán không hiểu "cái ông nội Lý Thương Ẩn này" nói cái quý quái gì, về ai, về đề tài gì, thì lập tức họ bịa. Các huyền thoại về Lam Điền, Đỗ Quyên là một trong các ví dụ rõ nét. Văn sĩ Tàu Hán cho dù họ không hề biết Lý Thương Ẩn mặt dài râu ngắn ra sao, họ cũng làm như "thân thiết lắm", họ lập tức viết sách về cuộc đời ông. Họ giỏi biạ, họ đã tạo ra nhiều giai thoại nên thơ, cái lũ Hán Vườn người Việt nhà mình vốn đội Hán đã quen lập tức tin và mang ra dịch lại "y sì " các huyền thoại này, rồi đem truyền cho lớp người Việt ngây thơ có thể là học trò của họ. Lớp học trò này vốn cũng đã khá ba gà, khép nép là thuộc tính, nên không dám hỏi thầy mình một hai tiếng về những gì mà mình còn nghi ngờ. Tại sao?, ai viết?, viết vào thời điểm nào? làm sao mà họ biết rành sáu câu như thế?. laiquangnam rất may vì học đến lớp tú tài IB là giã từ sớm thứ chữ nghĩa thuộc dòng thơ Tàu Hán đầy rối rắm kia rồi. Nguyễn Du tiên sinh của chúng ta có cái đầu rất tỉnh, không như lũ Hán Vườn đội Hán nặng nề kia, tiên sinh không mấy tin vào giai thoại, tiên sinh hiểu ngay những gì mà Lý Thương Ẩn thể hiện qua mặt chữ trong văn bản. Trong văn bản có thì bàn, không thì thôi. Nguyễn Du nhà mình không những hiểu ý Lý Thương Ẩn rất sâu, rằng Lý Thương Ẩn muốn nói gì, hay tại sao Lý Thương Ẩn lại viết như thế. Lý Thương Ẩn đã để lại cho đời hơn 600 bài thơ còn lưu truyền qua hơn 40 tập thơ đã từng viết. Chủ yếu thơ ông là thơ tình mà đối tượng là viết về nỗi lòng thương nhớ nàng Vương Thị. Đọc và lọc được hai bài thơ tình hay nhất trong số lượng thơ khổng lồ đó để dùng riêng cho mình là một sự tài hoa trác tuyệt của tiền nhân mà ta không sao tưởng tượng được. Như đã đề cập tại hai bài trước (1), Nguyễn Du dùng thơ Lý Thương Ẩn như là một thủ pháp viết thơ văn của mình. Nguyễn Du dùng hai bài trên như một cứ điểm, một chỗ tựa, để nới rộng ra cái lập luận riêng của mình mà trong dòng thơ nó quá đỗi hạn chế, đó không phải là nơi chốn lý luận dông dài. Mới đọc qua loa, nhiều "thầy ta" baChớp baNháng cứ tưởng tiền nhân ta dùng y chang thơ của người nhưng thực tế ý thơ của Nguyễn Du rất khác xa ý thơ nguyên tác. Tình huống trong Đoạn Trường Tân Thanh (Kiều) rất khác với tình huống của người trong cuộc nên Nguyễn Du không thể dùng nguyên văn được (1)..

Lý Thương Ẩn nằm trong số rất ít nhà thơ xưa của Tàu Hán có viết nhiều bài thơ thương nhớ người vợ quá cố của mình. Nguyễn Du cũng vậy, chỉ với bài "Ký mộng" của tiên sinh đã là một áng thơ tuyệt bút. Trong suốt tác phẩm Đoạn Trường Tân Thanh (Kiều), bài Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn là một bài thơ Đường duy nhất được Nguyễn Du khéo léo xử dụng đến 4 câu giữa của bài thơ thất ngôn bát cú luật thi này. Laiquangnam đã viết rõ tại sao rồi (1) . Nay laiquangnam viết thêm phần ngắn gọn này nhằm đi thẳng vào trọng tâm với một mục đích là giúp Bạn Hiền, người luôn bận rộn, nay có thể đọc lướt sơ qua một bài thơ tình thuộc dòng thất ngôn bát cú hay nhất vào thời Đường, một niềm hãnh diện của người Tàu Hán. Không đọc kể cũng phí. laiquangnam bỏ công khảo sát về bài thơ Tàu này chỉ vì nó có liên quan đến thi nhân ta mà thôi. Mong thông cảm, nếu Bạn Hiền có quá khắt khe, gọi hắn là tên đội Hán cũng có khi không sai mấy. Biết,nhưng cười trừ.

Cẩm sắt là gì?. Cẩm là gấm, sắt là một loại đàn. Đây là loại đàn dây. Mỗi dây đàn đều có gối đỡ, tức trụ đỡ, nên nó có thể có hình thức như cây lục huyền cầm, một loại đàn tranh của Việt Nam ta ngày nay. 25 dây là số lượng dây tối đa của cây đàn dây. Riêng Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn có đến 50 dây, đây là một điều rất lạ. Một sự ẩn dụ. Có lẽ đúng. Tại sao có con số 50?. Kẻ "đía" lung tung thì cho rằng có khi trong đời sống của người Tàu Hán, đến tuổi "ngũ thập" thì "tri thiên mệnh", tức là vào tuổi 50 thì họ biết lẽ trời. Đến tuổi 50 cũng là lúc tính sổ sự đời khôn dại, được thua. 50 dây + 50 trụ dẫn đến con số tròn 100. 100 là con số chỉ cái quái quỷ gì gì?. Đủ thứ trên đời có thể gán vào con số 100 đó. Thôi xin can, xin đừng đía nữa!. Con van cha.

Trong đời sống thực tế của Lý Thương Ẩn, ngay sau khi nghe tin vợ mất, ông về đã trể. Thấy trên tường cây Cẩm Sắt còn lủng lẳng treo trên tường, tình ta nay đã 50 (ngũ thập) cho dù lúc này ông mới trên dưới 40. Ông than, phần số trong cuộc tình, phận mình sao quá hẩm hiu, thua xa đôi chim uyên ương sống chết có nhau. Lúc sống nương theo gió mùa mà liền cánh cùng bay trong làn mây nhuốm màu sương khói mùa thu. Tình đẹp phải là như thế. Chim liền cánh, cây liền cành, Bạch Cư Dị đã viết trong bài Trường hận ca một câu như thế. Khúc đàn hay nhất trần gian mà Nguyễn Du được nghe là Khúc Cung Phụng của người Việt, đó là câu thứ 14 trong bài Long Thành Cầm Giả Ca (2) được chuyển sang thơ quốc âm là "Khúc tình ru song hạc vờn mây". Uyên ương của Tàu Hán là thứ chim thần thoại. Nhiều cái hay sự việc trong văn chương của người Tàu Hán mà ta bắt gặp qua các tay người Việt chuyển dịch mình cứ tưởng là thứ thiệt 100% , ai ngờ vớ phải thứ bịa. Giỏi bịa là nghề của họ. Người Việt mình thì không quen bịa như thế bao giờ, họ theo kinh nghiệm bằng sự quan sát thực tế, chim hồng hạc là loài chim thiên di thường bay ngang qua xứ ta hàng năm, có khi trụ lại trên đất Việt kiếm ăn đến vài tháng mới bay trở về. Hồng hạc là loài chim chung thuỷ nhất trong muôn loài. Đọc bài "Long Thành Cầm Giả Ca", bạn sẽ hiểu ba cái nhất trong tình cảm con người trên thế gian còn lại mà Khúc Cung Phụng liệt kê là gì nhé?. Đọc để hiểu độ cảm thụ văn chương của dân tộc mình ở mức độ nào mà xưa nay ta không hề hay biết .

Xin mời Bạn Hiền đọc bài Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn. .

Cẩm Sắt

锦瑟

I-Nguyên tác

錦瑟

錦瑟無端五十弦,
一弦一柱思華年。
莊生曉夢迷蝴蝶,
望帝春心託杜鵑。
滄海月明珠有淚,
藍田日暖玉生煙。
此情可待成追憶,
只是當時已惘然。

II- Phiên âm

Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền
Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên
Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp
Vọng đế xuân tâm thác đỗ quyên
Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ
Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên
Thử tình khả đãi thành truy ức
Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.

III - Ý Thơ

III-1-Câu thứ nhất 1- Cẩm sắt vô đoan ngũ thập huyền

Ý Thơ? Như đã đề cập ở đoạn đầu, vợ mình mất, mình (.LTA) không về kịp, lòng thương tiếc vô hạn. Bổng nhiên, nhìn lên tường, sững sờ, cây Cẩm Sắt vẫn còn treo trên ấy. "Tình đôi ta vời vợi, có nói cũng khôn cùng" (3). Tình yêu trào về, miên man nghĩ về nàng, biết nói sao cho hết. Nếu mỗi một người trên thế gian có một khối tình yêu lớn bằng chừng này thì riêng phần của ta (.LTA) thì phải lớn gấp đôi như thế. Cẩm Sắt có 25 dây đã đủ để cho người tình nhân này gảy cho nhau nghe nỗi lòng của mình khi họ ngồi với đối tượng. Với ta (.LTA) thì Cẩm Sắt của ta bổng hiểu, nên nó đã tự nhân đôi số dây ấy lên lúc nào không hay. Phải 50 dây mới đủ cho ta gảy nên tất cả các cung bậc nhớ thương nàng Vương thị. "Vô đoan"/ bổng đâu, tuy là từ công cụ, nhưng lại là mắt thơ trong câu thứ nhất là vậy (1) . Xạo sự, đía làm chi. ==> Năm mươi dây, ô hay!. Cẩm Sắt.

III-2-Câu thứ hai 2-Nhất huyền nhất trụ tứ hoa niên

Ý thơ, mỗi dây một trụ nhớ thời ở tuổi hoa niên. Cho dù khối tình trong ta gấp đôi thiên hạ ,vậy mà cái gì ra cái đó, rạch ròi với từng người tình không sao lấp lẫn được. ==> Trụ đối dây so chắc tuổi thơ .

III-3 Câu thứ ba 3-Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp ==>

Nghĩa đen, Trang Sinh trong giấc mộng vào lúc gần sáng ,ông mơ thấy mình hoá thành con bươm bướm. Ý thơ chỉ mộng và thực, thoát ly hiện tại trong phút chốc. Hiểu Trang tử như thế là cạn. Câu thơ này Nguyễn Du chuyển ý hay hơn nguyên tác gấp nhiều lần , Ấy là Hồ Điệp hay là Trang sinh. Hiểu như Nguyễn Du tiên sinh mới là hiểu Trang tử ở mức bậc thầy. Ở đây laiquangnam xin tạm dừng trong giây lát. Giả định sức tưởng tượng của bất kỳ ai đó có tổng thể là một không gian khép kín mà mình có thể hình dung được(4). Trong cái không gian to lớn và duy nhất ấy gồm có nhiều tiểu không gian,không gian con. Ví dụ không gian về cái tôi (ngã ) gồm hai tiểu không gian, ngã và phiNgã , gọp cả hai lại là một không gian tổng lại ta có "cõi người ta". Nguyễn Du viết "trăm năm trong cõi người ta, chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau" (5). Nếu ta cho Trang sinh là tiểu không gian "ngã" thì phần ngoài của ông là tiểu không gian " phiNgã" tức tiểu không gian "phiTrang Sinh". Phi là "không phải là". Không gian của phi ? .Phi gồm các tiểu không gian có các tiếp đầu ngữ ( prefix ) là nguỵ, giả, phản, đối, bất, vô, không. Ứng với mỗi nhân vật Trang Sinh mang một thuộc tính nào đó thì ta có một phiTrangSinh sinh ra, tức không phải là Trang Sinh cha sinh mẹ đẻ, có thể là giảTrangSinh,là nguỵ TrangSinh,là vô TrangSinh…vv . Vậy câu Kiều thứ 3200 mà Nguyễn Du đã viết trong Đoạn Trường Tân Thanh là "Ấy là hồ điệp hay là Trang sinh". Trong ấy Hồ điệp là phiNgã, tức là nguỵTrangSinh. Vậy thực tế có ba TrangSinh cùng tồn tại trong xác một con người mang tên Trang Sinh trong một thời gian vô cùng ngắn ngủi. Trang Sinh1 là Trang Sinh nguyên thuỷ, Trang Sinh do cha sinh mẹ đẻ mà có. TrangSinh2 là Hồ Điệp, đây là một thứ nguỵTrangSinh hay giảTrang Sinh, nó cũng đều thuộc về tiểu không gian trong một tiểu không gian khác, không gian phiTrangSinh. Và Trang Sinh trong câu thơ của Nguyễn Du là TrangSinh3. Trang sinh3 này khác với TrangSinh1 và cũng khác TrangSinh2 là Hồ Điệp. Trang Sinh thực vào thời điểm này là TrangSinh3. Trang sinh3 là sự nhập vào hoà tan ra ở một dạng thức khác, ngã1+ phi ngã( ngã2) sinh ra ngã3. Chính Ngã3 sẽ không còn chỗ dựa để mà TrangSinh1 còn phân biệt, còn liên tưởng, hay vọng tưởng, đâu là ngã và đâu là phi ngã nữa. Chính là "cái ta của ta " mà ta không làm sao phân biệt được nữa, đó là một dạng "sắc không". Con nhà tình nòi chân thật, chính là người tình ở trạng thái thứ 3. Đó là sự hoà hợp giữa niềm vui và sự khổ đau. Sầu là phiVui, hay Vui là phiSầu, chỉ khi Tình và phiTình hoà hợp lại thành Tình3, đó là lúc tâm ta không còn bối rối trước tình trường. Trở lại với Nguyễn Du nhà mình, Kiều nhi ngồi đánh đàn cho Kim Trọng nghe, và có thể nàng ngước nhìn chàng Kim với chút đùa nghịch trong lời trả lời không chừng ….

Nàng rằng: Ví chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu

Nói mà lòng không hề bối rối, nàng Kiều1 đã đạt đến trạng thái tâm lý Kiều3 rồi đấy . "Ví chút nghề chơi" chính là lúc tâm hồn nàng đang thơi thả . Kiều(1) + phiKiều( Kiều(2) , cả hai tan biến thành một thể thống nhất ==> kiều(3) và chính là Nàng trong câu "Nàng rằng: Ví chút nghề chơi,". Rõ ràng Nguyễn Du giúp chúng ta hiểu câu 7,8 trong nguyên tác Cẩm Sắt trở nên dễ dàng hơn. Vui và phiVui (phiVui tức buồn khổ, là mất nhau ) hoà nhau lại cùng dần vào ký ức thì lúc này lòng ta (.lta) mới hoá giải được nỗi đau Cẩm Sắt. Câu 3-"Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp" ==> Một sớm Trang Sinh mơ hoá bướm. Trang Sinh + phiTrangSinh ( hồ điệp) chính là Trang Sinh3 vậy. Trang Sinh3 là sự tổng hoà giữa A và phiA thành khôngPhiA. Là đạt đến "cực mức " về khái niệm của cụm từ "vô thường" về sự vật của một bậc chân tu trong giới con nhà Phật . Ngã hoà với phiNgã thành cái tôi duy nhất. Nguyễn Du là nhà thơ duy nhất đã đạt đến mức này. Quả thật tôi không được biết ngoài Nguyễn Du còn có thêm ai nữa trong thế giới văn chương của Ta và của Tàu Hán. Nguyễn Du luôn chú trọng về bờ bên kia là cái phiA mà Lý Thương Ẩn thường bỏ sót hay không khái niệm về nó (1)

Về trích đoạn Cẩm Sắt, khúc dương hoà , lúc này đây ( Kiều) và phiKieu nhập lại trong một xác thân duy nhất, đây chính là Kiều3 vào lúc gảy khúc đàn cuối cho Kim Trọng nghe. Nguyễn Du không biết có mối tình thầm kín nào không mà ông suy nghĩ đến nát óc như thế để tải cái tôi3 của ông đến cùng chúng ta?. Ông có mối tình câm nào vượt khuôn phép hay không?, tỉ như mối tình " bất nhơn " của Thục Đế với vợ thuộc hạ, hay tuồng như Lý Thương Ẩn cũng đã có với ai đó không chừng. Thâm trầm. Thơ của Lý Thương Ẩn không rõ như câu thơ của Nguyễn Du . Tiên sinh nói rõ dùm cho ông. Lý Thương Ẩn nợ Nguyễn Du của ta một chầu bia hơi đấy nhé!, bởi câu của Lý Thương Ẩn trong bài là "Trang sinh hiểu mộng mê hồ điệp" là câu trần trụi.

III-4 Câu thứ tư "Thục Ðế xuân tâm thác đỗ quyên" ==>

Mời bạn xem lại điển tích Thục Đế, Đỗ Quyên(1). Tâm xuân, hỏa bốc lên người mờ mắt nhà vua. Thục Ðế đã âm mưu đoạt vợ của thuộc hạ. Ý thơ? , trong tâm ta (.lta) cũng có những "mối tình bất nhơn ngoài khuôn phép" . Chết vẫn khôn nguôi vì thương nhớ tình nhân …

III-5 Câu thứ năm, "Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ "

Ý thơ? , Những mối tình buồn, dấu kín trong lòng, mỗi khi đêm về, nhất là những đêm trăng sáng. Trăng luôn là chứng nhân với mọi thi nhân, với mọi cặp tình nhân lãng mạng của mọi dân tộc . "người nay không thấy trăng xưa, trăng nay từng rọi người xưa tỏ tường"; Lý Thương Ẩn làm sao mà không nhớ thơ Lý lớn, tức Lý Bạch cho được, bởi trong bài "Bả tửu vấn nguyệt" có hai câu như vầy ,

Kim nhân bất kiến cổ thì nguyệt,
Kim nguyệt tằng kinh chiếu cổ nhân

Tạm dịch Việt ngữ ,

==> Người ngày nay (tuy) không thấy vầng trăng xưa.
(nhưng) Trăng ngày nay từng chiếu rọi người xưa rồi

==> Người nay chẳng thấy trăng xưa ,
Trăng nay soi rọi người xưa tinh tường
(mời đọc bài Bả Tửu Vấn Nguyệt ngay trong trang web này )

Trăng bất nhơn lại chiếu vào vùng sắc màu thương hải mà ta(.lta) đã dấu chặt tận đáy lòng ta, nơi đó những giọt nước mắt khóc tình sầu, có khi có các "mối tình bất nhơn " tại câu 4 nữa.Trăng chiếu sáng long lanh những viên châu ngọc vờn trên đầu ngọn sóng trên biển tối âm u, đó là những giọt nước mắt sầu thương nay lại được viền quanh nó bằng màu vàng ánh của vầng trăng xưa hò hẹn, làm cho nỗi đau tưởng lòng ta đã tưởng chôn chặt nó vào vùng tận ký ức xa xăm, nay lại rực sáng lên, khơi dậy lòng ta lại dâng trào nỗi đau bất tận. Ta đã dấu kín trong lòng ta; vậy mà vầng trăng chứng nhân khơi dậy làm gì? Trăng ơi sao ngươi ác vậy với ta, niềm đau. Đó là câu thơ tuyệt tác đầy đẳng cấp của một nhà thơ China.

==> Biển trăng chiếu ánh châu viền lệ xưa

III-6 Câu thứ sáu , 6- Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên

Ý thơ?, Những mối tình đẹp công khai như với người vợ của ta, nàng Vương Thị. Vợ ta cho ta những ngày đẹp như viên lam ngọc trước nắng mai sáng rực trong vườn xuân . Than ôi, những viên lam ngọc óng ánh trong nắng mai thì bị làn nắng nóng ấm ấp cho nóng lên làm bốc hơi tan dần dần đi từng lớp mỏng. Niềm vui của ta chính là ngọc lam điền vào lúc ban mai nắng đẹp nơi đồng nội theo thời gian nay cũng không còn tồn tại Nàng vừa bỏ ta đi vào lúc ta xa nhà, vì chén cơm manh áo, nỗi buồn trong ta lại lớn hơn khi nhìn thấy cây Cẩm Sắt kia còn treo trên vách. ==> Lam điền khói ngọc phế ngàn tia

III-7 Câu thứ bảy 7-Thử tình khả đãi thành truy ức

Ý thơ? , Bờ bên kia biết đợi biết bao giờ cái nỗi đau vì cái tang vợ, vì cái tình tang, cái tình lẫn cái tang . Tình tang, tang tình , vui buồn hãy lùi dần vào vùng ký ức cho lòng ta bớt đau.Tình tan! . Một câu thơ xuất sắc!. ==> Tình tang cõi nhớ mờ chưa?, ,

III-8 Câu thứ tám 8- Chỉ thị đương thời dĩ võng nhiên.

Ý thơ? Thì bờ bên này, nơi ta đang sống không có nàng vào lúc đây, lúc này đây thì lòng ta chán nản lắm rồi. ==> hai câu 7, 8 ==>

Tình tang ký ức bờ kia,
Bờ này đâu dễ sớm lìa tình tan!

Kết :

Với ý thơ như thế, Lý Thương Ẩn đã viết nên 8 câu trong bài thất ngôn bát cú luật thi Cẩm Sắt như trên. Nguyễn Du, thi hào bậc nhất của dân tộc ta đã chia sẻ cùng ông một cách thân thiện. Tiên sinh dùng nó trong đoạn Kim Kiều tái ngộ. Lòng Kiều rất đỗi ngổn ngang, tâm lý người phụ nữ vào lúc này cực kỳ phức tạp mà laiquangnam đã có dịp phân tích trong hai bài trước (1) . Tiền nhân ta thật là thiên tài khi cảm nhận một bài thơ tình phức tạp như bài này quá dễ dàng. Rằng " Con ruồi bay qua mặt mình là biết ngay con nào là ruồi đực hay là con ruồi cái." . Đọc và duyệt qua hàng ngàn bài thơ của Tàu Hán là biết bài nào hay bài nào dở ngay và thò tay gắp lấy một hai bài, dùng vài câu trong đó làm cứ điểm trong Đoạn Trường Tân Thanh của mình trong khi chính của người Tàu Hán bây giờ với tiền nhân họ, họ cũng còn có khi ú ớ về ngữ nghĩa. Bạn đọc các bản dịch sang thơ Quốc Âm của các giáo sư ĐHVK&DHSP thời VNCH thì biết ngay độ phức tạp của nó.

IV- Dịch sang thơ quốc âm

*Thất ngôn bát cú luật thi

Ô hay!, cẩm sắt năm mươi giây
Một trụ, một tơ thuở trẻ này
Mộng sớm Trang sinh mơ hoá bướm,
Lòng xuân Vọng đế, Đỗ Quyên vay
Sáng trăng thương hải châu hàm lệ
Nắng ấm lam điền ngọc khói bay
Bến nọ, tình xưa thành ký ức!
Bến này, chừ thấm, nản chan cay
Laiquangnam

*Lục bát

Sắt/c Cầm năm chục dây tơ
Mỗi dây một trụ, kết khờ tuổi hoa ,
Trang Sinh mộng, bướm là ta
Tâm xuân Thục Đế, sắc nhoà Đỗ Quyên
Ngọc tươm hơi, nắng Lam Điền
Biển trăng chiếu ánh châu viền lệ xưa
Tình tang cõi nhớ mờ chưa,
Mà đây thần xác chán, thừa sầu bi .
Laiquangnam

*Song thất lục bát

Năm mươi dây, ô hay, cẩm sắt!
Trụ đối dây soi nét ngày thơ
Trang Sinh hoá bướm sớm mơ
Tâm xuân Thục Đế tấp bờ Đỗ Quyên
Biển trăng rọi tỏ miền châu lệ
Lam điền khói ngọc phế ngàn tia
Tình tang ký ức bờ kia,
Bờ này đâu dễ sớm lìa tình tan!.

*Tình huống của Lý Thương Ẩn khi làm bài này là cái tang vợ còn quá mới trong ông. Tình tang! Ôi cái tình& cái tang vợ đang còn mới rợi, đang làm nhói đau lòng ông.

* Các bản dịch khác thuộc giới giáo sư đại học.

Mời Bạn Hiền đọc các bản dịch sang thơ Quốc Âm sau đây của vài giáo sư dạy chữ Hán hay văn chương China tại các viện Đại họcSG , viện Đại họcSG Huế thời VNCH và của giáo sư Vĩnh Sính, giáo sư đang dạy tại Đại học tại Canada hiện nay .

01

Bản dịch sang thơ Quốc Âm của hai Giáo sư Bửu Cầm và Tạ quang Phát.

Cẩm sắt năm mươi chẵn sợi mành
Mỗi dây một trụ nhớ ngày xanh
Mơ màng bướm lẫn Trang sinh mộng
Áo não quyên kêu Thục Ðế tình
Thương hải lệ châu trăng chiếu suốt
Lam Ðiền hơi ngọc nắng hun thành
Tình này đợi nhớ trong mai hậu
Chán nản giờ đây khổ nỗi mình
(Bản dịch của Bửu Cầm và Tạ Quang Phát)

Giáo sư Bửu Cầm là ai?.

Gs ĐH. Bửu Cầm sinh năm 1920 tại Huế. Ông à một nhà nghiên cứu Hán Nôm rất có tiếng của giới nghiên cứu cổ văn thời VNCH. Thời ấy có lúc ông là Trưởng ban Hán văn trường Quốc học Huế sau về dạy tại trường Đại học Văn Khoa Sài Gòn. Là chuyên viên nghiên cứu lịch sử và ngữ văn cổ trung đại Việt Nam, văn hóa, triết học cổ Trung Hoa của bộ QGGD VNCH .

Tạ Quang Phát là ai?. Laiquangnam chờ sự bổ sung về tiểu sử của Bạn Hiền.

02

Trần Trọng San

Giáo sư ĐHVKSG& Giáo sư ĐHSPSG, hệ đệ Nhị cấp, phân ban Việt Hán.

Ông là một giáo sư đại học được lưu dung sau 75. Điều này chứng tỏ về "tài năng thực sự của ông".

Cây đàn năm chục đường dây,
Mỗi dây mỗi trụ, nhớ ngày còn xanh.
Mơ màng giấc bướm Trang-sinh;
Lòng xuân Vọng-đế, đỗ-quyên gửi vào.
Biển xanh trăng chiếu lệ châu;
Ngọc phơi nắng ấm, khói cao Lam-Điền.
Tình này đợi nhớ nên niềm,
Thế nhưng đã ngậm ngùi duyên bấy giờ.

03

Vĩnh Sính (1944-2014)
Giáo sư Đại học về khoa lịch sử tại Nhật bản

Nghĩ là chưa thể gói gọn ý chỉ trong một bài, giáo sư dịch thành hai bài để bổ sung ý cho nhau.

3a

Cẩm sắt vì đâu năm chục dây ?
Mỗi dây mỗi trục nhớ thương đầy.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế tình xuân tiếng cuốc chầy.
Thương hải trăng thanh châu nhỏ lệ,
Lam điền nắng ấm ngọc tan bay.
Tình này ví thử sau còn nhớ,
Lúc đã tàn phai với tháng ngày !
Vĩnh Sính

3b

Cẩm sắt vì đâu ngũ-thập-huyền ?
Mỗi dây mỗi trục gợi hoa niên.
Trang sinh sớm mộng mê thành bướm,
Thục đế xuân tình gửi tiếng quyên.
Bể cả trăng thanh châu đẫm lệ,
Ðồng xanh nắng ửng ngọc tan liền.
Tình này ví thử sau còn nhớ,
Khi đã qua rồi thuở lứa duyên !
Vĩnh Sính

04

Huỳnh Minh Đức,

Giảng sư tại ĐHVKSG vào năm 73-75. Không biết sau 75 ông có còn được lưu dung?. Bao lâu ?

Ông nay vẫn còn tham gia dịch và giới thiệu thơ Đường dài dài trên mạng. Cận 30/4 năm 75, Ông đã cố in một tập sách về thơ văn Trung Hoa có lẽ đó là giáo trình dạy ĐHVKSG chăng ?

Đàn gấm

Cẩm sắt vì sao ngũ thập huyền
Mỗi dây mỗi trụ, nhớ hoa niên
Trang Chu tỉnh mộng, mơ hồ điệp
Vọng đế lòng xuân, gởi Đỗ quyên
Trăng sáng biển xanh, châu đổ lệ
Khói vương nắng ấm, ngọc Lam điền
Tình này sớm tạo niềm nhung nhớ
Là buổi đầu tiên, chút nỗi niềm

V- Người Mỹ dịch

Thế hệ 1,5 đọc thử đoạn dưới đây để hiểu Người Mỹ dịch bài này ra làm sao ?

Li Shangyin

The Inlaid Harp (1)
http://wengu.tartarie.com/wg/wengu.php?l=Tangshi&no=209

The Inlaid Harp*
I wonder why my inlaid harp has fifty strings,
Each with its flower-like fret an interval of youth.
...The sage Chuangzi is day-dreaming, bewitched by butterflies,
The spring-heart of Emperor Wang is crying in a cuckoo,
Mermen weep their pearly tears down a moon-green sea,
Blue fields are breathing their jade to the sun....
And a moment that ought to have lasted for ever
Has come and gone before I knew.
Bynner dịch

Nguồn http://wengu.tartarie.com/wg/wengu.php?l=Tangshi&no=209

300 Tang poems – Tang Shi VI. 1. (209) –Alias Tang Shi San Bai Shou, Three Hundred Poems of the Tang Dynasty.

Dịch giả Harold Witter Bynner (August 10, 1881 – June 1, 1968) là một thi sĩ Mỹ chính hiệu con nai. Ông tốt nghiệp tại Đại học Havard hạng danh dự và được mời giảng dạy tại nhiều trường đại học Hoa Kỳ về cổ văn Trung quốc. Ông là dịch giả chính trong tác phẩm Three Hundred Poems of the Tang Dynasty, Đường thi tam bách thú nay còn được lưu hành trong các thư viện đại học Hoa Kỳ. Tuồng như giáo sư TTS đã dùng quyển này để giảng dạy cho SVDHSPIIcấp,SG, quyển này rất nổi tiếng và được tái bản nhiều lần tại Việt Nam đến tận giữa thập niên 90 tại SG.

*Harp là hạc cầm, cây đàn dây rất cổ trong thế giới Phương Tây. Đàn harp không có gối đỡ dây . Nói như thế để thấy người Mỹ không chấp nhất về cây " 锦瑟 " . Câu "The spring-heart of Emperor Wang is crying in a cuckoo," liệu có làm bạn rung cảm?. "Thục đế tình xuân tiếng cuốc chầy." Vĩnh Sinh. Vậy mà người Mỹ vẫn OK. Hai câu cuối dịch giả dịch với một ý rất mới so với các câu dịch sang thơ Quốc Âm của người Việt mình có trên mạng internet. Dịch thơ mỗi người mỗi ý, chớ có khắc nghiệt. Nhớ xưa câu chuyện Hiếu Tử trong Nam Hoa Kinh của Trang tử , "Rằng anh có phải là cá không mà biết cá vui, _rằng anh có phải là tôi không mà tôi không biết cá đang vui ." . Dịch cho mình và cho người. Thây kệ. Mình biêt mình là Hiếu Tử là OK .

VI- Tiếng Chim Gọi Đàn.

Đôi lời cùng Đàn Chim Việt xa xứ.

Nếu bạn tự nhận là "Lũ chúng ta sinh lầm thế kỷ" thơ VHC, Cùng một lứa bên trời lận đận (Tì Bà Hành,PHV) thì xin đọc những giòng này. Không thì bỏ đi ( delete ) coi như không có trong bài viết này vậy. Chớ có càm ràm mà tội nghiệp hắn . Cám ơn.

Xin mời Đàn Chim Việt xa xứ đêm nay, trong số đó có hai bạn tôi là Phan Phải, Phạm văn Hoàng nay đang lẩn quẩn đâu đó trên cõi trần này. Cánh chim xa Xứ. Giữa mùa Giáng Sinh quá ư lạnh lẽo năm nay trên đất nước đã cho chúng ta một chỗ dung thân này; Các Bạn của tôi ơi, Bạn làm ơn thò tay tắt ngọn đèn trên đầu giường, trong bóng đêm mờ ảo, hãy mở youtube lên, gõ các cụm từ chữ màu đỏ, nghe lại giọng hát của Lệ Thu trong bài "Tình khúc thứ nhất", thơ Nguyễn Đình Toàn nhạc Vũ Thành An sau đó là "Bài không tên cuối cùng" cũng của VTA. Và cuối cùng là bài "Giọt lệ cho ngàn sau"qua giọng của chính tác giả Từ Công Phụng, có thế thì ta mới rơi vào úng với tâm trạng tình tang, tang tình, và tình tan của Lý Thương Ẩn trong bài Cẩm Sắt mà Bạn Hiền vừa đọc. Nội dung tôi tạm tóm lược lần nữa như vầy,vì biết bạn nay đã là U70 rồi ,tuổi nói trước sau quên. "Đời ta (.lta) sao tình lai láng gấp đôi người đời. Tình đẹp công khai như viên ngọc trong ngày nắng ấm thì tan dần. Tình câm, tình sầu, tình loạn đã lấy trong ta những giọt nước mắt thì vào mỗi độ trăng tròn thì nỗi nhớ lại càng đau. Tình vui, tình buồn,tình tang, tan tình …ta (.lta) chỉ mong bọn chúng lùi về vùng ký ức để cho ta đỡ khổ, trong sự mong chờ đó, hiện tại bọn chúng chỉ để trong ta những buồn chán mà thôi.". Quả nhiên sau khi viết bài này ,chừng vài năm sau ông đi theo bà. Hẳn bây giờ Bạn Hiền đã hiểu Nguyễn Du nhà ta hơn, và tâm hồn Kiều nhi đang nghĩ gì khi cô bé chơi đàn Khúc đàn cuối cùng trong đời mình cho Kim Trọng nghe. Với nụ cười hóm hỉnh pha chút ngây thơ đầy diễu cợt," Nàng rằng: Ví chút nghề chơi, //Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu" . Nàng rằng: Ví chút nghề chơi mà làm đau xé tim ta đến tận giờ (Kim Trọng) . Trong bóng đêm, chúng ta cùng hòai niệm về một thời sinh viên SG đi ăn cơm thí tại các quán cơm Vạn Quốc Tự trước BVBD SG, hay những lúc đói no tìm chỗ dạy kèm thời trung học TQC tại Hội an quê nhà. Tôi tin rằng hai bạn hiền càng thấm thía với các đoản khúc "tình ca" này. Xin cám ơn Nguyễn Du vạn lần. Kẻ sĩ thiên tài đã cho chúng ta niềm vui bất tận khi ta đã bịn rịn đóng lại truyện thơ Đoạn Trường Tân Thanh ( Kiều) mà thời trung học chúng ta có học qua nhưng không mấy am hiểu người xưa. Đúng là Đoạn Trường Tân Thanh chứ không là Vương Thuý Kiều phải không hai bạn hiền .

Nào mời đọc lại Đoạn Trường Tân Thanh này .

Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp tiếng huyền gần xa .
Khúc đâu đầm ấm dương hòa,
3200. ấy là hồ điệp hay là Trang sinh .
Khúc đâu êm ái xuân tình,
ấy hồn Thục đế hay mình đỗ quyên?
Trong sao châu nhỏ duềnh quyên,
ấm sao hạt ngọc Lam điền mới đông !

1-Nhớ lại thời SV ăn cơm thí giữa SG hoa lệ

3205. Lọt tai nghe suốt năm cung,
Tiếng nào là chẳng não nùng xôn xao

2-Đối chiếu bản thân, nay là công dân Hoa Kỳ tâm trạng mình có thay đổi :

Chàng rằng: Phổ ấy tay nào,
Xưa sao sầu thảm nay sao vui vầy ?
_Tẻ vui bởi tại lòng này,
3210. Hay là khổ tận đến ngày cam lai ?

3- Suy cho cùng "Yêu là khổ mà không yêu thì lỗ "

Nàng rằng: _Ví chút nghề chơi,
Đoạn trường tiếng ấy hại người bấy lâu!

4- Vợ thập thò ngoài cửa phòng, tắt lẹ đi cha nôi!

Một phen tri kỷ cùng nhau,
Cuốn dây từ đấy về sau cũng chừa .

5-Moã già nghe riết sợ chi!(Đông Dạ Văn Trùng )

Thí mạng cùi, sợ chi ! quá đã. Sáng trời nào hay!

3215. Chuyện trò chưa cạn tóc tơ,
Gà đà gáy sáng trời vừa rạng đông .

VII-Lời cuối sau loạt bài Cẩm Sắt của Lý Thương Ẩn .

Bạn có thấy gì không? . Với tám câu thơ 56 từ mà laiquangnam đã "đía" và kéo dài đến ba bài liên tiếp nếu in ra cỡ vài chục trang sách; thế thì có khi nào bạn tự hỏi với quyển Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) của Nguyễn Du dài 3254 câu mà một tên Chệch cà chớn nào đó ở miền Bắc Việt Nam, láu cá, ăn cháo đái bát, nhân cơ hội Viện Viễn Đông Bác Cổ,Hanoi , thu mua các sách cổ, y đã khéo léo viết lại bằng văn xuôi được khen đáo để, việc này đâu có quá khó với đội ngũ SV Hán nôm hiện nay, y đã dấu mặt nhập vào văn bản viết tay của chính y vào viện. Có khi nào bạn tự hỏi các ông tríThức tríNgủ người Việt đã từng là công chức cấp cao thời Pháp làm tại viện này, đã từng thấy quyển sách viết tay ấy, tại sao họ lại không yêu cầu đem đến "Viện Hình Sự" thuộc Bộ Nội Vụ xem sách ấy in bằng giấy mới hay giấy cũ, mực mới hay mực cũ, chỉ đóng sách là loại chỉ gì , mới hay cũ. Tại sao một sự việc liên quan đến văn học Việt Nam quan trọng đến như thế mà họ lại tắc trách đến như thế. Đồ Bạch Huê cả lũ. Có khi nào bạn tự hỏi cụ Dương Quảng Hàm đã có bao giờ thấy quyển của Thanh Tâm Tài Nhân chưa, mặt dài râu ngắn ra sao mà Cụ lại dám nói thi hào Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều ) từ sách của Thanh Tâm Tài Nhân? . Lớp sau, gồm các giáo sư trung và đại học Việt Nam tin vào lời phát biểu của đàn anh mình mà đồn ầm lên rằng đã có quyển truyện Vương Thuý Kiều của Thanh Tâm Tài Nhân viết y chang như Đoạn Trường Tân Thanh(Kiều ) của Nguyễn Du, có nghĩa là kéo dài đến đoạn Kim Kiều Tái Ngộ. Có khi nào bạn tự hỏi, Có ai trong chúng ta cho đến giờ phút này đã từng thấy quyển của Thanh Tâm Tài Nhân gồm đủ các hồi mà "tên xuẩn ngốc" Phạm Đăng Quế, một giáo viên cấp ba trong nước đã viết quyển sách (7) so sánh các hồi giữa hai quyển, một là từ bản giả mà Nguyễn Đình Diệm thời VNCH đã dịch; Có khi nào bạn tự hỏi, không biết cái ông Nguyễn Đình Diệm dịch từ nguồn nào?, Nhà xuất bản nào?, ai cung cấp sách? và quyển thứ hai là chính tập thơ Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều) của Nguyễn Du. Theo tôi được biết qua mạng, có một bản gồm 12 hồi do Thanh Tâm Tài Nhân viết đang được lưu trữ tại Hoa Kỳ, và một bản khác của Thanh Tâm Tài Nhân, đang được lưu trữ tại Nhật Bản vào thế kỷ thứ 17, có lẽ có 16 hồi nhưng không có đoạn Kim Kiều tái ngộ. Chỉ cần ai đó xin chụp vài trang gốc rồi đối chiếu với bản của Nguyễn Đình Diệm là mọi việc được giải quyết dứt điểm vụ án "Vu khống không tiền khoáng hậu trong lịch sử văn học thế giới do người Tàu thời Mao " dàn dựng. Có khi nào bạn yêu cầu giới làm văn học người Việt, một khi không thấy bản gốc của Thanh Tâm Tài Nhân thì xin đừng ghi ra trong văn bản rằng Nguyễn Du dựa vào bản của Thanh Tâm Tài Nhân, đó là cớ để cho người Tàu in lại bản viết tay có duy nhất từ Việt Nam với sự tự tin, từ đó họ làm bùa phép ngược rằng đó là bản gốc để quy chiếu ngược danh tác của nước ta. Xin đừng lầm sự vay mượn câu chuyện và sự chuyển thành thơ một tác phẩm bằng văn xuôi đã có dàn bài sẳn như tên xuẩn ngốc Phạm Đăng Quế đang sống tại Việt Nam đã làm, sách được tái bản nhiều lần với sự mặc nhiên chấp nhận của Hội Kiều Học, một cơ quan ăn lương của chính phủ. Đúng ra ở cấp chính phủ, danh chính ngôn thuận, năm nay LHQ kỷ niệm 250 năm ngày sinh của thi hào Nguyễn Du, danh nhân văn hoá thế giới, cầu xin sự giúp đỡ của chính phủ Nhật Bản cho được tiếp cận vài trang sách gốc, sau đó đối chiếu văn phong là biết ngay. Việc quá nhỏ như thế mà làm không được thì đúng là vận nước ta đã đến hồi mạt vận. Bạn tin vào giới lưu trữ văn khố của Viện Hán Nôm ư? . Bản thân họ dốt đến nổi để quyển viết tay này nằm chung với quyển sách giả in lại từ quyển này do TQ viện trợ sau 55 . Học giả TQ thời Mao đã lược bỏ bớt chút đỉnh từ quyển viết tay rồi Chính phủ TQ cho xuất bản như ta thấy hiện nay. Coi chừng bản viết tay này ai đó đã "chôm" rồi không chừng , "chôm" để dấu biệt chứng từ gốc không chừng. Nếu điều này xảy ra, văn khố cũng mất thì mọi bí mật quốc gia làm sao mà bảo toàn. Đất nước mình tiêu vong là cái chắc.

Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như
==>
Ba trăm năm lẽ về sau,
Ai trong thiên hạ khóc sầu Tố Như?.

Tài năng của Nguyễn Du ra sao, lòng kẻ sĩ của Nguyễn Du ra sao, qua vài bài thơ chữ Hán mà laiquangnam giới thiệu gần đây bạn hiền đã rõ; đó là chưa nói một khi bạn đã đọc bài Long Thành Cầm Giả Ca thật kỹ bạn sẽ thấy tài năng của thi hào Nguyễn Du ở tầm cao nào. Trong lòng tôi vào lúc này, tôi nói thật lòng với các bạn là tôi, laiquangnam, miệt thị những ai không tin vào tài năng của tiền nhân mình. Ai, bất cứ ở tầm vóc nào, địa vị nào, có bất cứ sức học nào, có bất cứ bằng cấp nào, Ai mà đời mình chưa từng thấy bản gốc, hay chưa đòi hỏi người Tàu trưng ra bản gốc của Thanh Tâm Tài Nhân viết về Kim Vân Kiều Truyện mà nói "Nguyễn Du tiên sinh dựa trên bản Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (có đủ đoạn Kim Kiều tái ngộ) " là một kẻ quá đỗi ngu xuẩn. Tôi sẽ trở lại vấn đề này một cách cặn kẻ hơn và nhiều data hơn của giới có thẩm quyền. Trong đó có lời phàn nàn đầy ú ớ của tên Đổng Văn Thành (TQ) (8).

Đúng là

Qua già nghe riết sợ gì,
Mấy cưng lớp trẻ nghe chi, bạc đầu !
(Đông Dạ Văn Trùng)

VI-Tham khảo và ghi chú .

  • Các chữ màu đỏ là cụm từ khoá để dễ nhớ khi bạn muốn vào Google search hay youtube cho lẹ và bài vở đa dạng
  • Li Shang Yin, chúng ta cũng tập quen dần gọi đúng tên CHINA của họ. Đừng nhập nhằng họ Lý lừng danh của người Việt như Lý Thường Kiệt, Lý Công Uẩn với họ Li của Tàu. Việt là Việt .Tàu là Tàu. Đừng để họ WU và Vũ nhập nhằng nhau như mới đây mà làm đau lòng cho người Việt.
1-xin đọc lại hai bài " Lý Thương Ẩn, 李 商 隐 , TQ và Nguyễn Du, Việt Nam qua bài Cẩm Sắt" trên Chim Việt Cành Nam hay trên www.art2all.net

Đây là một loạt ba bài bất ly thân, xuất hiện lần đầu trên hai trang www.art2all.net và Chim Việt Cành Nam số 57 ,tháng 11 ,năm 2014 . Xin các bạn đọc lại để hiểu rõ tài năng của tiền nhân ta.

2-Long Thành Cầm Giả Ca " thơ chữ Hán tuyệt tác của Nguyễn Du. Bài sẽ được laiquangnam giới thiệu trên trang web này nay mai nhầm chào mừng lễ kỷ niệm 250 năm ngày sinh của danh nhân văn hoá thế giới do UNESCO tổ chức. Nó gồm một loạt bốn bài.

3- Câu "Tình đôi ta vời vợi, có nói cũng khôn cùng" bài Mắt buồn ,Thơ Lưu Trọng Lư.

4-Giá như tôi chen được vào đây vài hình vẽ về khái niệm tập hợp thì lời thuyết minh sẽ rõ ràng hơn nhiều. Hẹn bạn trong một dịp khác.

5-Nguyễn Du viết "trong năm trong cõi người ta, chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau.(5)

Cõi người ta là không gian tổng gồm hai không gian con là không gian Tài và không gian Mệnh. Như thế tuy cùng là cõi người ta ,mà có thể chia thành "ngã và phiNgã " hoặc là "tài và mệnh" ….Tuỳ bối cảnh mà chia.

6-Bài viết của giáo sư sử học Vĩnh Sính (1944-2014 ) dạy đại học Nhật Bản và tại Canada. Xin đọc tại link này , http://www.erct.com/2-ThoVan/VinhSinh/10202003-Ve_bai_CAM_SAT.htm

Các bạn cũng nên đọc bài này để hiểu giới giáo sư dạy đại học tại nước ngoài nghĩ gì về, hiểu như thế nào về thơ tiền nhân ta . Nhắc lại giáo sư Vĩnh Sính chuyên ngành về lịch sử Nhật Bản,ông không phải là giáo sư chuyên khoa về ngành văn chương như giáo sư Bửu Cầm hay TTS .

6*-Bài Bả Tửu Vấn Nguyệt của Lý Bạch xin đọc tại trang website này.

7- Đây là tên bìa sách cực kỳ phản động do tên giáo viên cấp 3 Phạm Đăng Quế viết, Nguyễn Du –Thanh Tâm Tài Nhân, Truyện Kiều và Kim Vân Kiều Truyện, Phạm Đăng Quế so sánh- đối chiếu-chú giải .NXB văn học, 2000 Hanoi.

Các bạn cũng nên đọc thử cho biết, và từ đó đừng hỏi tại sao tên Tàu Hán WU KHIEU sửa cho lại Đoạn Trường Tân Thanh( Kiều) .

8 –*Muốn biết sự láo lếu của tên giáo sư Tàu Hán này, xin mời đọc loạt bài của Ðổng Vãn Thành

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=5986&rb=0102

So sánh Truyện Kim Vân Kiều Trung Quốc và Việt Nam

  • Nữ Giáo sư Phạm Tú Châu, Hanoi, với tấm lòng của một người phụ nữ còn liêm sĩ của Việt Nam, Bà đã lên tiếng. Còn cánh giáo sư đàn ông ư?. Họ đã ngậm câm hết cả rồi. Có lẽ đa phần vì dốt và vì " vô tâm như Lú" Đông Dạ Văn Trùng .
** Trong một trang sách của giáo sư Trần Ích Nguyễn người Taiwan, nay đang dạy tại Đại học Đài Trung,Taiwan có mô tả cảm giác ú ớ này của Đổng Văn Thành. Giáo sư Trần Ích Nguyễn là người đặc trách thu thập văn thơ sáng tác bằng chữ Hán tại Việt Nam. Ông là người có thẩm quyền nhất khi phát biểu về Kim Vân Kiều Truyện của Thanh Tâm Tài Nhân . Và văn bản viết tay tại VN có phải là của Thanh tâm tài nhân hay không, đừng mong gì, đừng kỳ vọng gì ở các tiến sĩ dõm của Việt Nam hiện có mà sự việc được sáng tỏ.
Nam Cali, một ngày cuối năm lạnh giá .
27 tháng 12 năm 2014
Laiquangnam.