|
Đi
phượt, đi pheo...
* * *
Nguyễn
Dư
|
|
Lâu
quá không về thăm xóm cũ. Từ ngày...
Từ
ngày bị thằng Covid-19 ác ôn trói chân. Bạn bè xì xào kháo
nhau thua keo này bày keo khác. Không đi chơi bằng máy
bay, xe hơi, thì đi bằng sách báo vậy. Chí lí!
Đường
ta đi dài theo đất nước bao la...
Nói
chung, ngày xưa dân ta ngại đi xa. Bất đắc dĩ mới phải
đi. Đi tha phương cầu thực. Đi tìm đời sống thoải mái,
dễ chịu hơn... Có người ra đi ngậm ngùi hẹn ngày trở
lại. Có người đi biền biệt...
Từ
đời Trần đến đời Nguyễn, trong hơn năm thế kỉ, vua chúa
phong kiến đã nhiều lần ra lệnh bắt dân đi khai phá, khẩn
hoang những vùng đất mới. Dân đi khẩn hoang hầu hết là
dân nghèo. Họ âm thầm chấp nhận muôn vàn vất vả, khó
khăn.
Chính
những người dân đi khẩn hoang này đã gây dựng nên những
làng xã mới, tiền thân của nhiều tỉnh thành sau này. Họ
đã tích cực góp phần mở mang đất nước.
Nửa
sau thế kỉ 20, nước ta có hai cuộc di dân tự phát, bất
ngờ:
Năm
1954, đất nước bị chia đôi. Một triệu (?) người miền
Bắc di cư vào Nam.
Năm
1975, chấm dứt chiến tranh. Khoảng một triệu (?) người miền
Nam "vượt biên", di cư ra nước ngoài .
Vào
những năm 1980, có chính sách đưa dân đi khai phá, khẩn hoang
những vùng "kinh tế mới". Không biết kết quả ra sao?
Thời
kì khó khăn dần dần qua đi. Đời sống khá lên. Ăn uống
lu bù. Du lịch trở thành ngành mũi nhọn của phát triển kinh
tế.
Đi
du lịch...
Nước
ta có đi du lịch từ bao giờ?
Bài
học Chỗ quê hương đẹp hơn cả kể chuyện (năm 1948):
Một
người đi du lịch đã nhiều nơi. Hôm về nhà, kẻ quen
người thuộc, làng xóm, láng giềng đến chơi đông lắm.
Một người bạn hỏi: "Ông đi du sơn du thuỷ, thế tất đã
trông thấy nhiều cảnh đẹp. Vậy ông cho ở đâu là thú
hơn cả?" Người du lịch đáp lại rằng: "Cảnh đẹp mắt
tôi trông thấy đã nhiều, nhưng không đâu làm cho tôi cảm
động, vui thú bằng lúc trở về chốn quê hương, trông thấy
cái hàng rào, cái tường đất cũ kỹ của nhà cha mẹ tôi.
Từ cái bụi tre ở xó vườn, cho đến con đường khúc khuỷu
trong làng, cái gì cũng gợi ra cho tôi những mối cảm tình
chứa chan, kể không sao xiết được" (1).
Khách
du lịch vác ô, xách bị, đi bộ. Chắc là chỉ thăm viếng
trong vùng quanh làng. Xa lắm cũng chỉ độ hai, ba chục cây
số.
Đi
du lịch để thấy cái hay, cái đẹp của nơi khác. Nhưng
rốt cuộc chỉ có quê hương là đẹp hơn cả. Đi làm
gì cho mệt.
Bên
cạnh những cuộc lên đường, ra đi làm thay đổi cả vận
mệnh đất nước, phải kể thêm vài kiểu đi có tên
ngộ nghĩnh, xa lạ...
Đi
phượt...
Thạch
Lam giới thiệu tập bút ký Hà Nội băm sáu phố phường:
Người
Pháp có Paris, người Anh có London, người Tàu có Thượng Hải
(...). Chúng ta cũng có Hà Nội, một thành phố có nhiều vẻ
đẹp, vì Hà Nội đẹp thật (chúng ta chỉ còn tìm những
vẻ đẹp ấy ra), và cũng vì chúng ta yêu mến. Yêu mến Hà
Nội với tâm hồn người Hà Nội, cũng như người Parisien
chính hiệu yêu mến Paris...
Trong
những cuộc phiếm du, ‒ phiếm du ngoài các phố
Hà Nội là một cái thú vô song chỉ người Hà Nội có –
ta nên chú ý đến những nét đổi thay của thành phố (...)
(2).
Phiếm
du là đi chơi chỗ này chỗ khác, không định chỗ nào
(Phiếm là trôi nổi linh đinh. Không thiết thực. Không
chuyên một việc. Du là đi chơi) (Từ điển Đào Duy
Anh).
Mới
đây, tình cờ được đọc bài "Một người Mỹ đã đi
phượt hàng nghìn km liên tục với chiếc xe điện được
độ từ xe buýt Volkswagen đời 1964" trên báo Tuổi Trẻ.
(Chiếc
xe buýt VW đời cổ cải tạo thành xe điện, phượt gần
9700 km trong 43 ngày...).
Nhớ
lại khoảng 5, 6 năm trước, được đọc bài giới thiệu
thú đi phược của giới trẻ. (Phược hay phượt
có lẽ là một, tuỳ theo cách phát âm của người viết).
Hôm ấy tra tìm trong từ điển không thấy Phược nên
tạm gạt đi phược qua một bên.
Lần
này theo dõi hành trình của chiếc VW thì thấy chuyến đi
phượt của anh chàng người Mỹ được tổ chức rất
chu đáo. Anh chỉ lo xe điện mà hết điện nằm ăn vạ nơi
đồng không mông quạnh thì... hơi phiền. Anh cẩn thận tra
tìm những trạm xăng có cột sạc điện nằm gần lộ
trình.
Nhưng
mục đích chính của chuyến đi là vui đâu chầu đó.
Như con bướm, khi vui nó đậu, khi buồn nó bay.
Đi
chơi như vậy tiếng Hán gọi là phiếm du (như Thạch
Lam phiếm du ngoài các phố Hà Nội).
Hoá
ra đi phược hay đi phượt đều là
phiếm
du. Phược hay Phượt là biến âm của
Phiếm.
Đi
pheo...
Đầu
thế kỉ 20, Nguyễn Thượng Hiền đưa ra một loại đi khó
hiểu khác là đi pheo. Cái tên cũng bí hiểm không thua
gì đi phượt.
Đi
pheo nằm trong bài thơ dài Hợp quần doanh sinh thuyết
của Nguyễn Thượng Hiền:
 (...)
 Đứa
trai họ đã quen hương tục,
 Từ
trẻ trung đến lúc bạc đầu.
 Dẫu
rằng ngậm cháo, ăn rau,
 Mà
khi đóng góp dám đâu tiếc tiền.
 Kẻ
xôi thịt đồng niên biết mấy,
 Lễ
nghĩa gì mượn lấy mà ăn.
 Nào
là bái xã, kỳ thân,
 Nào
khi cưới hỏi, nào tuần ma chay.
 Của
có sẵn lâu ngày cũng hết,
 Huống
chi là bợm kiết xưa nay:
 Cửa
nhà khăn áo dắt dây,
 Qua
hôm giã đám, là ngày đi pheo.
 Khó
đến thân đi liều chẳng kể,
 Chốn
hương quan mấy kẻ tìm về ? (...) (3).
Sống
ở làng phải theo hủ tục của làng. Phải đóng góp hết
chuyện này đến chuyện kia. Người có của moi mãi cũng hết.
Đám nghèo hèn thì chỉ còn nước bỏ nhà bỏ quê quán, dắt
nhau đi pheo.
Đi
pheo có giống đi phượt không? Chắc chắn là không
vì đi phượt là đi chơi còn đi pheo là đi kiếm
ăn nơi đất khách quê người.
Chữ
Hán có hai chữ Phiêu (bộ Thuỷ và bộ Phong) cùng có
nghĩa là Trôi nổi lênh đênh.
Phiêu
bạc là Trôi dạt không định. Nay đây mai đó, không định
ở chỗ nào.
Phiêu
ngụ là Ở trọ nơi đất khách.
Nguyễn
Thượng Hiền đã Việt hoá chữ Phiêu thành Pheo.
Đi
pheo là đi ở trọ nơi đất khách quê người, kiếm ăn
nay đây mai đó.
Tiếng
Việt ngày nay nói phiêu bạt, phiêu dạt. Tiếng
Việt còn có Phiêu du nghĩa là Đi chơi, đi đến những
nơi xa lạ (Từ điển Hoàng Phê)
 Sớm
lên ngồi lạnh non cao
 Thở
ra mây trắng, hút vào gió xanh...
 Chợt
thương con nguyệt nửa vành
 Phiêu
du trắng mộng bên cành thông khô...
 (Giản
Chi, Chợt không) (4).
Đi
bát phố, đi dòm tủ kính...
Vào
những năm 1950, Hà Nội có phong trào rủ nhau đi bát phố.
Đi phiếm du hay đi lượn phố thì còn hiểu được,
chứ đi bát phố thì có lẽ chỉ những người trong
cuộc hiểu với nhau.
Cho
đến ngày tình cờ thấy Battre le pavé trong Từ điển
Larousse mới vỡ lẽ. Battre le pavé nghĩa là "Đi qua
đi lại, phất phơ không mục đích (aller et venir par désœuvrement,
sans but)".
À,
thì ra dân Hà Nội ngày xưa rủ nhau đi bát phố tức
là rủ nhau đi Battre le pavé. Thật oái oăm. Mấy ông
tây
lô can ghi âm battre thành bát, dịch chữ
pavé
(vỉa hè lát đá) là
phố.
Tây
đi Lèche-vitrines, mấy ông đi Dòm tủ kính.
Dân
Hà Nội đã tạo ra mốt mới là đi bát phố,
đi
dòm tủ kính.
Đi
lao động, đi định cư...
Thế
kỉ 21, Việt Nam mở cửa, buôn bán với rất nhiều nước.
Kinh tế toàn cầu... Dân Việt tha hồ đi chơi, đi phượt,
đi du lịch, đi du học, đi định cư nước ngoài... Người
Việt ngày nay sinh sống tại nhiều nước. Con cháu sinh đẻ,
lớn lên tại "quê hương thứ hai" đã đến đời thứ ba,
thứ tư.
Vậy
có còn hoàn cảnh phải đi pheo không?
Vẫn
còn! Đi pheo ngày nay (theo nghĩa là đi ở trọ, kiếm
ăn nơi đất khách quê người) có hai loại: đi trong nước
và đi ra nước ngoài.
Đi
pheo trong nước là chuyện bình thường của hầu hết các
nước trên thế giới. Cả ba miền Bắc, Trung, Nam nước ta
đều có nhiều người đi làm xa, cuối năm mới "về quê ăn
Tết".
Đi
pheo ra nước ngoài thì khác. Có hai loại:
-
Đi hợp pháp được gọi là đi xuất khẩu lao động.
Phải qua dịch vụ môi giới, kí hợp đồng, đi có thời hạn.
Phần đông là đi làm tại các công trường xây cất.
-
Đi bất hợp pháp, gọi là trốn ra nước ngoài,
do băng đảng xã hội đen tổ chức. Đàn ông, con trai thì
đi "làm vườn" trồng cần sa. Đàn bà con gái thì đi làm con
hầu, gái điếm. Đi không hẹn ngày về.
Đi
định cư nước ngoài là
đi pheo "chất lượng cao".
Trên nguyên tắc, nước đón nhận đòi hỏi phải có người
bảo lãnh...
Đi
du học...
Đi
lấy chồng.... Xinh, Hàn, Mã, Đài... hay Âu, Mĩ, Úc gốc
Việt.
Có
một vụ lấy chồng người nước ngoài gây nhiều tai
tiếng:
-
Mùa hạ, tháng 6 năm Bính ngọ (1306), gả công chúa Huyền Trân
cho vua nước Chiêm Thành là Chế Mân. Trước đây, thượng
hoàng đi chơi các địa phương sang nước Chiêm Thành, đã
trót hứa gả con gái cho. Các văn sĩ trong triều ngoài nội
nhiều người mượn điển vua nhà Hán đem Chiêu Quân gả cho
Hung Nô làm lời thơ bằng quốc ngữ để chê cười. (Vua Chiêm
Thành Chế Mân đem đất hai châu Ô Lý, sau đổi thành châu
Thuận và châu Hoá làm lễ vật dẫn cưới).
Mùa
đông tháng 10 năm 1307, sai nhập nội hành khiển Trần Khắc
Chung và an phủ sứ Đặng Văn sang Chiêm Thành đón công chúa
Huyền Trân và thế tử là Đa Da về. Tục nước Chiêm Thành,
hễ vua chết thì hoàng hậu phải vào đàn thiêu chết theo
(...). Khắc Chung dùng thuyền nhẹ cướp lấy công chúa đem
về, rồi tư thông với công chúa, loanh quanh mãi ở đường
biển, lâu ngày mới về đến kinh sư (...)
Sử
thần Ngô Sĩ Liên bàn: Vua giữ ngôi trời (...) mà lại
đem gả (con gái) cho người xa không phải giống nòi cho đúng
lời hẹn trước, rồi lại dùng mưu gian trá cướp lại về
sau, thế thì tín ở đâu?
Trần
Khắc Chung là người gian tà biết chừng nào? Không những
là làm cái việc chó lợn này, đến sau lại vào tụi với
Văn-hiến hầu vu hãm quốc phụ thượng tể vào tội phản
nghịch, làm chết oan đến hơn trăm người, mà nó được
hưởng phú quý trọn đời, tức như câu Khổng Tử nói rằng:
"Người gian tà sống là may mà thoát nạn" ấy chăng! Song,
sau khi chết rồi, gia nô của Thiệu-võ vương bới xác lên
mà vằm nhỏ ra, thì lời nói của thánh nhân càng tin lắm
(5).
Ngày
nay ca Huế còn hát:
 Nước
non ngàn dặm ra đi
 Cái
tình chi
 Mượn
màu son phấn
 Đền
nợ Ô Lý
 ...
 Vì
lợi cho dân
 Tình
đem lại mà cân
 Đắng
cay muôn phần.
Sầu
thảm quá!
Nguyễn Dư
(Lyon, 8/2022)
(1)- Quốc văn giáo khoa thư,
Lớp dự bị, 1948, tr. 35.
(2)- Tuyển tập Thạch Lam,
Văn Học, 1988, tr. 167.
(3)- Chương Thâu, Nguyễn Thượng
Hiền, Tuyển tập thơ văn, Lao Động, 2004, tr. 403.
(4)- Võ Phiến, Văn học miền
Nam - Tổng quan, Văn Nghệ, 2000, tr. 148.
(5)- Đại Việt sử ký toàn thư,
tập 2, Khoa Học Xã Hội, 1967, tr. 92-94. |