Xoay vần...
khiêng, kéo, đạp, ôm!

Nguyễn Dư

Đoạn đường từ khách sạn đến sân bay Tân Sơn Nhất dài chưa tới mười cây số. Taxi chạy khoảng nửa giờ. Thế mà lần nào vợ chồng tôi cũng bảo nhau "cho" thêm ba, bốn giờ cho yên tâm. Lo sợ chuyện gì vậy? Chuyện "ông đi qua, bà đi lại", kẹt xe thì khốn!
Nghe nói mấy chục năm trở về trước Sài Gòn không có nạn kẹt xe.
Các cụ di chuyển bằng cách nào mà hay vậy?
***
Lịch sử xe cộ của nước ta được Phan Huy Chú (1782-1840) tóm tắt như sau:
Năm 1045 đời Lý Thái Tông, chế thứ xe thái bình, dát vàng vào bồng la ngà, đóng cho voi kéo (...). Năm 1122 đời Lý Nhân Tông, mới chế ra dải bạc để dẫn đồ lỗ bộ. Năm 1124 chế thứ lọng che mưa cán cong.
Xét: Xe cộ và nghi vệ triều Lý chỉ thấy chép ở sử như thế thôi, ngoài ra không khảo vào đâu được, mà quy chế của bồng la ngà và dải bạc thì không biết rõ được, duy có cái lọng cán cong đời sau còn dùng làm đồ ngự dụng của người sang trọng.
Năm 1437 đời Lê Thái Tông, Lương Đăng tâu xin định quy chế lỗ bộ. Xe kiệu đại giá của vua thì có xe đại lộ, xe voi, xe ngựa, kiệu cửu long, kiệu thất long, xe bộ (người kéo), xe bay (...).Đến tháng 10 ngày canh ngọ, năm thứ xe kiệu làm xong, thăng đồng giám Lỗ bộ ty là Lương Đăng làm đô giám (...).
Năm 1595 đời Lê Thế Tông, tiết chế Trịnh Tùng chế ra thứ xe hai bánh, trang sức bằng châu ngọc và ngà voi, trên xe có mui sơn, hai bên xe có lan can bằng ngà voi, bốn vách xe sơn đen thếp vàng. Lại có bốn cái thang để trèo lên. Đằng trước xe có cái đòn ngang. Sai bốn người lực sĩ đẩy. Kiểu xe này bắt đầu từ Thái úy quốc công.
Xét: Đây là kiểu xe buổi đầu trung hưng. Buổi quốc sơ đại giá nhà vua có năm thứ xe, về sau dần dần bỏ đi. Đến đời trung hưng mới lại chế xe ấy, nhưng cũng chưa đem vào lỗ bộ. Các vua chúa đi đâu chỉ dùng kiệu kim long và kiệu kim quy. Các quan đi thì dùng kiệu 7 đòn, võng 3 đòn. Dùng đã quen, cho là êm thích mà kiểu xe bèn bỏ không dùng nữa (1).

m kiểu xe của Lương Đăng bị bỏ. Đời Lê trung hưng có làm xe hai bánh, bốn người đẩy. Nhưng kiểu xe này chưa được đưa vào lỗ bộ. Rốt cuộc xe bị bỏ vì vua quan thích kiệu, võng êm hơn.
Thực tế thì cho tới đời Minh Mạng nước ta không có xe chở người chạy ngoài đường.
Nói bậy! Xe chạy ngược xuôi đầy cả sách vở như thế kia mà lại dám nói là không có. Chịu khó mở mắt ra mà xem:
Phải duyên hương lửa cùng nhau
Xe dê lọ rắc lá dâu mới vào 
(Nguyễn Gia Thiều, Cung oán ngâm khúc)
Vua nhờ dê kéo xe đưa đường dẫn lối đi "dê" cung phi.
Dập dìu, tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen (Nguyễn Du, Kiều)
Nạn ùn tắc giao thông thời cô Kiều đâu có thua gì ngày nay.
Lối xưa xe ngựa hồn thu thảo
Nền cũ lâu đài bóng tịch dương
(Bà Huyện Thanh Quan, Thăng Long thành hoài cổ)
- Thôn Huyền Thiên, tổng Đồng Xuân, huyện Thọ Xương ở phía đông bắc tỉnh Hà Nội, nguyên thờ Thượng đẳng thần Huyền Thiên, Chân vũ Nguyên Quân.
Quán xưa được dựng vào niên hiệu Thiệu Bình (1434-1439), được sửa vào niên hiệu Vĩnh Hựu (1735-1740) đời Lê.
(...) Riêng thôn Huyền Thiên có được quán này, kết cấu ban đầu xuất từ nhà nước, tất là chốn ngựa xe tấp nập, là đường áo gấm đua chen; thế mà chẳng bao lâu đã hoang vu đổ nát, chỉ còn lại mươi nhà (...) (2).
Theo bia, sách của ta thì trước thời Tự Đức, thậm chí từ thế kỉ 15, Thăng Long đã từng là chốn ngựa xe tấp nập rồi. Dám nói là bia, sách chép sai à?
- Bia, sách chỉ chép đúng như Tứ thư, Ngũ kinh, Bắc sử đã truyền dạy thôi!
Tiếng xe lọc sọc ruổi xa,
Đại phu mặc áo thêu hoa năm màu (Kinh Thi, thiên Vương phong)
Xe vua rầm rập ruổi đi
Ngựa vua trán trắng uy nghi khác đời... (Kinh Thi, thiên Tần phong) (3).
- Vua nước Lỗ cho Khổng Tử một cỗ xe, hai con ngựa, một người đầy tớ, cùng đến đất Chu hỏi về lễ. Khổng Tử yết kiến Lão Tử ở đấy.
Lão Tử nói với Khổng Tử:
- Người quân tử gặp thời thì xe ngựa nghênh ngang; không gặp thời thì như cỏ bồng xoay chuyển (4).
Các bậc khoa bảng nước ta đều là những nhà nấu sử sôi kinh chuyên nghiệp. Lâu ngày bị "méo mó nghề nghiệp", nhiễm thói quen ngồi xe, cưỡi ngựa của thánh hiền:
Ngựa ngựa xe xe là ý tốt
Dập dìu là ấy chiêm bao (Nguyễn Trãi)
Đường chen xe ngựa tai vang nhạc
Nào chốn nào là chẳng cõi nhân (Hồng Đức quốc âm thi tập)
Cửa vắng ngựa xe không quít ríu
Cơm no tôm cá, kẻo thèm thuồng (Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Ngày xưa, phương tiện di chuyển đường bộ của nước ta có voi, ngựa, kiệu, võng. Voi, ngựa, kiệu dành cho vua, quý tộc, quan văn, quan võ cấp cao. Dân thường chỉ dùng võng hay cáng.
Đời Minh Mạng đặt ra lệ cho các ông tiến sĩ tân khoa cưỡi ngựa xem hoa, dạo phố, vinh quy bái tổ, "Ngựa chàng đi trước, võng nàng theo sau".
Số người đi ngựa tuy không nhiều nhưng các nơi trang nghiêm như Văn Miếu (Hà Nội) thường được dựng bia "hạ mã", bắt các ông quan lớn muốn đi qua phải xuống ngựa. Bia "hạ mã" nghiêm hơn đèn đỏ, bảng cấm ngày nay. Quên xuống ngựa có thể bị nọc ra quất cho vài roi trước mặt mọi người. Còn mặt mũi nào để hò hét với đám dân đen.
Dần dần những người giàu có cũng sắm ngựa, võng, hay cáng.
- Một hôm ở phường Đông Các (Hàng Bạc) có một bà lớn đi võng mành mành cánh sáo, đầy tớ lính hầu rậm rịch, đến trước cửa một nhà hàng bạc, truyền thị tỳ dừng võng lại để hỏi mua mấy chục nén bạc... (5).
Em đi cùng với me
Me em ngồi cáng tre
Thầy theo sau cưỡi ngựa
Thắt lưng dài đỏ hoe
(Nguyễn Nhược Pháp, Chùa Hương)

***
Cảnh đường phố nhộn nhịp ngựa xe phải chờ đến thời Pháp thuộc mới thấy.
Rần rần ngựa lại với xe qua,
Nhượng địa là đây có phải là? (Bà Bang Nhãn, Vịnh Cửa Hàn)

Trong Nam
Năm 1862, thực dân Pháp bắt đầu chương trình mở mang, xây dựng thành phố Sài Gòn. Con đường được trải đá (cho xe ngựa chạy) đầu tiên của Hòn ngọc Viễn Đông là đường Catinat (Đồng Khởi ngày nay).
Năm 1876, Trương Vĩnh Ký từ miền Nam ra thăm miền Bắc. Ông kể lại chuyến đi:
- Qua ngày 18 tháng chạp đề huề xuống tàu. Sớm mai giờ thứ 9 rưỡi nhổ neo. Vợ con đi đưa, ngồi xe đi rảo trên bờ cho đến tàu quày trở rồi riu ríu chạy xuống đồn Cá Trê, mới về. Xế giờ thứ hai ra cửa Cần Giờ, chỉ mũi chạy ra Mũi Né (6).
Lễ quốc khánh Pháp 14 tháng 7 năm 1893, thầy Thông Chánh bắn chết tên biện lí:
Lang Sa bày cuộc châu thành
Cách to du dếch lễ thời chánh trung
Ngoài đường xe ngựa ùn ùn
Trát đòi làng tổng tứ tung tựu về... (Thơ Thầy Thông Chánh(7).
Người Pháp đã đưa các kiểu xe ngựa của Âu châu vào miền Nam. Dân ta bắt chước làm ra xe thổ mộ, xe kiếng chở người.

Ngoài Bắc
Miền Trung và miền Bắc bị Pháp bảo hộ năm 1884.
Năm 1885 Hà Nội có xe khách công cộng do ngựa kéo.
Cho tới năm 1886, Hà Nội chỉ có hai chiếc xe ngựa bốn bánh của tư nhân: một chiếc kiểu Malabar de Colombo của hội Truyền Giáo dành cho giám mục Puginier; chiếc thứ hai kiểu Victoria của Henri Rivière. Rivière đã đi xe này ra trận Cầu Giấy và bị quân Cờ Đen chém chết ngày 19 tháng 3 năm 1883.
Chiếc xe Victoria của Rivière được đem ra bán đấu giá cho Coutel, nhà thầu khoán đầu tiên ở Hà Nội (8).
Nhân dịp quốc khánh Pháp,14 tháng 7 năm 1890, chính quyền thực dân làm lễ dựng tượng Paul Bert. Ngày hôm ấy, đường phố Hà Nội nhộn nhịp xe ngựa, xe kéo.

Xe kéo
Đầu năm 1884 trú sứ Bonnal cho nhập từ Nhật 2 chiếc djinn rickshaw (xe kéo bằng tay), một chiếc dành cho Tổng Đốc (Nguyễn Hữu Độ), một chiếc để làm mẫu cho thợ ta bắt chước làm. Những chiếc xe kéo đầu tiên được chế tạo tại Bắc kì chưa được như mọi người mong muốn. Xe Nhật tiếp tục được nhập và được nhiều người ưa thích, lùng kiếm (8).
Chiếc xe kéo bằng tay (gọi tắt là xe kéo, xe tay) của Nhật hình dáng ra sao?
Bác sĩ Hocquard sang Việt Nam, vào ở trong thành Hà Nội ngày 1 tháng 3 năm 1884. Ngày 5 tháng 3 ông được ông Garien đưa đến thăm Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ. Ngày 7 tháng 3, Hocquard đi Bắc Ninh...
Hocquard có chụp 2 tấm ảnh trước toà trú sứ của Pháp ở phố Hàng Gai, Hà Nội. Hai tấm ảnh này được khắc in trong sách của Hocquard (9) và sách của André Masson (8).
Trong ảnh có mặt Hocquard, trú sứ Bonnal, chưởng ấn Aumoitte, ông Castera, ông Piglowski và... 2 chiếc xe kéo.

Chúng ta có thể suy đoán rằng bác sĩ Hocquard đã đến chào trình diện trú sứ Bonnal tại phố Hàng Gai, trong khoảng từ ngày 1 đến 7 tháng 3 năm 1884. Trú sứ Bonnal cho nhập 2 chiếc xe kéo của Nhật vào đầu năm 1884, nghĩa là trước khi Hocquard đến Hà Nội độ một, hai tháng. Hai chiếc xe kéo này được Bonnal đem ra "khoe" mọi người, trước khi đưa tặng Tổng đốc và trao cho thợ làm mẫu.
Ngày 15 tháng 7 năm 1886, Hà Nội có đua ngựa và đua "người ngựa" (tiếng Pháp là homme-cheval, chỉ phu kéo xe).
Năm 1889 xe kéo làm tại Bắc Kì được mang sang trưng bày tại Đấu xảo Paris (10).
Cuối thế kỉ 19, chiều chiều được ngồi xe kéo đi hóng mát phía Hồ Tây, miệng phì phèo thuốc lá tây, chao ôi là sung sướng! Chẳng thua gì ngày nay lái ô-tô chở bồ nhí đi karaoké, ngoạm bánh mì thịt, uống trà túi!
Không biết Hà Nội có công ti dịch vụ xe kéo từ năm nào. Dựa vào tranh Oger (khắc in năm 1908-1909) Cu li xe đổi quần vẽ hai người phu kéo xe đang thay đổi quần áo có dấu hiệu của một công ti, thì có thể khẳng định rằng Hà Nội có công ti xe kéo trễ nhất là từ năm 1908.
Tranh Oger còn cho thấy xe kéo rất phổ biến. Nhà sư rước nước cũng ngồi xe kéo. Vợ chồng đi Phố An Nam sắm đồ bằng xe kéo. Quan đi xe, có điếu đóm chạy theo sau. Đầm đi xe v.v. Đồ chơi rằm tháng tám, làm bằng sắt tây, cũng có chiếc xe kéo sơn màu (1915).
Trong Nam, xe kéo không được chào đón như ngoài Bắc. Một phần vì bà con ưa xe ngựa (xe thổ mộ), xe kiếng hơn. Một phần vì người ta hay đem ra chế diễu hình ảnh "ông Tây thực dân" to béo ngồi trên xe để một cu li gầy ốm, mồ hôi nhễ nhại kéo.
Tuy vậy, xe kéo vẫn được nhiều người thừa nhận là một phương tiện chuyên chở tiện lợi, chả có gì là bất nhân. Người Âu thì không thắc mắc gì cả, cứ thản nhiên ngồi xe kéo.
Năm 1888, hội đồng thành phố Sài Gòn cho phép một người Pháp được độc quyền kinh doanh dịch vụ xe kéo. Năm 1900 Sài Gòn có 395 chiếc xe kéo (11).
Rất có thể là nhà kinh doanh này đã ra Hà Nội mở công ti xe kéo.
Cuối thế kỉ 19, nước ta có xe bò chở hàng.
Đầu thế kỉ 20, Sài Gòn có xe lửa, ô-tô bưu điện chạy đường Sài Gòn Tây Ninh. Hà Nội có tàu điện, xe kéo bánh cao su.
m 1916, vua Khải Định ban sắc quy định từ nay trở đi, các Hoàng thân, Vương công, Đại thần trong chính phủ khi đi xe vào triều thì phải dừng đỗ xe ở bên ngoài cổng Nhật Tinh và cổng Nguyệt Anh; còn đình thần từ các văn võ ấn quan thì được dừng đỗ xe ở phía trước nhà của lính Túc vệ.
Vua ngự trên xe điện đi qua cây cầu sắt, dân chúng hai bên đường chen chúc nhốn nháo kéo tới xem rất lộn xộn, trong khi các viên quan dẹp đường của phủ Thừa Thiên không có ai ra đàn áp (12).
Vua Khải Định là một trong số những người Việt Nam đầu tiên có xe hơi.
Đèn Hà Nội sáng choang lửa điện
Quanh Hồ Gươm xe điện, cao su (Tản Đà, Vợ chồng người đốt than)
Xe xe, ngựa ngựa, lại người người
Đứng đứng, đi đi, nói nói cười (Tản Đà, Chơi trại Hàng Hoa)
Vào khoảng năm 1920, xe cộ công cộng, xe tư nhân bắt đầu nhộn nhịp. Thường dân ai sắm được chiếc xe đạp "bờ-rô" (Peugeot) đã là hạng khá. Có thể đi lấy le, đi vây với hàng xóm được rồi. Xe hơi thì chỉ có mấy ông quan lớn làm việc cho Pháp hay các điền chủ có ruộng cò bay mỏi cánh mới dám mơ tưởng.
Ai cần đi đâu thì có xe ngựa, xe kéo. Xe kéo thuận lợi nhưng xã hội lại coi phu kéo xe là hạng người cực khổ, bị bóc lột sức lao động.
Đời thế, anh ơi, thế cũng khoe!
Hết trò phu cáng lại phu xe!
Văn minh chừng mấy ki-lô-mét
Tiến bộ như anh nghĩ chán phè.
(Tản Đà, Cái đòn cáng cùng người phu xe)
Phóng sự Tôi kéo xe (1932) của Tam Lang đã gây tiếng vang lớn. Người đọc bất ngờ khám phá ra khía cạnh tối tăm, "bùn lầy nước đọng" của Hà Nội.
Xe kéo "sống" đến năm nào?
Tú Mỡ tả một ông Chồng gàn (1952):
Ơn trời mắt sáng chân tay lành,
Xe đạp trèo lên phóng rất nhanh,
Hà tất xe nhà đầy tớ kéo,
Chẳng là không hợp lẽ trời sinh.
Năm 1952 Hà Nội còn lác đác xe kéo không hợp lẽ trời sinh. Đồng thời, Hà Nội lại có xích lô.
- Buổi chiều ở Hàng Ngang. Tuy là thành phố đã ra lệnh đi một chiều, xe cộ vẫn làm tối cả mắt người ta lại. Xe đạp, xe mô-tô, xe xích lô, xe vê-lô sô-lếch, xe ô-tô và cả những thứ xe gì?(...) (13).
Năm 1953, xe kéo Hà Nội rút lui, nhường chỗ cho xích lô.

Xích lô
Gốc gác của xích lô được Tam Lang gợi ý như sau:
- Một cái màn vải dọc trắng dọc đỏ căng trên bốn chiếc gọng sắt lừ lừ tiến đến tận trước mặt tôi; tôi nhìn lại thì là chiếc xe đạp hòm ba bánh đem bán rong đường những đồ giải khát của hiệu Đầu con Gấu.
Từ phía nhà Nhạc hội đi lại, lướt trên đường nhựa, chiếc xe Đầu Gấu chạy veo veo. Cùng một lúc ấy, chiếc xe đạp hòm ba bánh chở hàng của nhà ảnh Hương Ký cũng vừa đến đầu Hàng Đào, người ngồi trên giơ tay ra hiệu cho xe Đầu Gấu. Hai xe cùng hãm, hai người cùng đạp cho xe sát đến gần nhau. Một người xuống xe, bỏ ra ba xu; một người cũng xuống xe, hí hoáy làm một cốc nước đá bào đưa cho người kia uống. Xong việc mua bán, cả hai người lại ngồi lên xe, đạp. (...).
Đứng trên bờ hè, tôi nhìn hai chiếc xe ấy xa nhau. Rồi cũng ngay lúc ấy, óc tôi nảy ra một mối nghĩ : người ta có thể đem những thứ xe đạp này dùng thay cho xe kéo.
Ba chiếc bánh cao su lắp vào một cái gióng bằng sắt, hai bánh để trước, một bánh để sau. Giữa hai bánh trước, đặt một cái giỏ mây vào, sau lưng giỏ dựng một cái cần cao để làm cọc chống đỡ lấy cái mui; vành sau giỏ lắp một cái tay xe cho người ngồi đạp đằng sau cầm lái.
Đấy, phác qua, chỉ có bấy nhiêu cái.
Bấy nhiêu cái khéo đặt cho tiện mưa tiện nắng, nhà đóng xe đã có thể chế ra được một thứ xe người đạp người.
Tôi chẳng dám nhận công là một nhà sáng kiến, vì thứ xe đạp người ấy, hiện ở Thượng Hải, người ta đã cho đem chạy khắp các phố rồi.
Người đạp xe cho người, coi nó lịch sự mà có vẻ nhân đạo hơn vì người đạp cũng được ngồi, không phải co hai chân, cắm cổ cắm đầu mà chạy. (...) (14).
Xe đạp hòm ba bánh của Tam Lang là xe Triporteur của Pháp.
Xe Triporteur ra đời năm 1906, là xe ba bánh có hòm để chở hàng (Từ điển Robert). Xe triporteur người đạp ngồi đằng sau, được ta cải tiến thành xe ba bánh chở hàng và xe xích lô chở người. Cả hai loại xe này vẫn còn chạy cho đến tận ngày nay.
Một thời Sài Gòn có thêm xích lô máy. Máy nổ, khói phun. Ít khách.
Xích lô là biến âm của cycle (hay cyclo-pousse?).
Có một thuyết khác về xe xích lô.
Bàn về Xe cộ và thuyền bè Phan Cẩm Thượng cho biết:
Khi xe đạp phương Tây xuất hiện ở phương Đông, người phương Đông đã dùng hai bánh xe đạp có lốp cao su chế thành loại xe kéo tay và xe đạp ba bánh (xích lô).
(...) Loại xe ba bánh, ở Thượng Hải phổ biến loại xe lôi, mà người đạp ngồi phía trên, còn chỗ chở khách đặt phía sau. Loại xe này khi sang nước ta được cải tiến lại, người đạp ngồi phía sau, ghế khách đặt phía trước (15).
Xe ba bánh người đạp ngồi đằng trước của Thượng Hải (và Ấn Độ ngày nay) có nguồn gốc khác xe xích lô người đạp ngồi đằng sau của Việt Nam.
Xích lô không phải là xe ba bánh Thượng Hải được cải tiến.

Xe ôm
Thời mở cửa, kinh tế thị trường.
Mấy thành phố lớn nước ta hăm hở bước vào sân chơi... ùn tắc giao thông. Đường phố nhỏ, hẹp. Ý thức giao thông còn... mới quá. Ngày nào cũng tái diễn cảnh xe đạp, xe mô-tô, xe hơi chen nhau. Ai cũng tự cho mình quyền ưu tiên. Thế là... kẹt cứng. Kẹt thì luồn lách. Luồn lách lại bị bóp còi phản đối...
Để giải quyết nạn kẹt xe có nơi cấm xe ba bánh, xích lô vì cồng kềnh, chậm chạp. Chỉ nương tay cho... xích lô du lịch thôi. Xích lô du lịch sạch sẽ, đẹp mắt hơn xích lô bình dân. Thật ra chẳng cần phải cấm, người ta quay sang lái xe ôm gần hết rồi. Xe ôm Honda, Yamaha, Suzuki đang nằm đầy trong đám kẹt xe kia kìa.
Xe ôm thoải mái hơn xích lô. Người lái không mệt nhọc tay chân. Gặp đường dốc cũng không ngại. Xe ôm bình đẳng, thân thiện, không phân biệt giai cấp. Chủ và khách cùng ngồi ghế đệm, cùng hít thở khói xăng.
Sang trọng hơn xe ôm thì có taxi có máy lạnh. Taxi sạch sẽ, kín đáo. Bên ngoài không biết bên trong đang làm gì.
Số xe hơi của nước ta chưa nhiều. Nhưng mật độ xe cộ của Hà Nội, Sài Gòn (tính cho tất cả các loại xe) thì rất đáng nể. Tại sao lại mâu thuẫn như vậy? Vì diện tích thành phố nước ta nhỏ, đường phố chật hẹp.

Nguyễn Dư
(Lyon, 1/2018)
(1)- Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 2, Sử Học, 1961, tr. 112-119.

(2)- Nguyễn Văn Siêu, Phương Đình văn loại, Văn Học, 2001, tr. 50.

(3)- Kinh thi quốc phong, Kim Y Phạm Lệ Oanh dịch, Tủ sách Cành Nam, 1997.

(4)- Sử ký Tư Mã Thiên, truyện Khổng Tử thế gia, Văn Học, 1988.

(5)- Phạm Đình Hổ, Vũ trung tuỳ bút, Văn Học, 1972, tr. 84.

(6)- Trương Vĩnh Ký, Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất Hợi, BSEI, 1929, tr. 5.

(7)- Nhóm Nguyễn Thị Thanh Xuân, Sài Gòn Gia Định qua thơ văn xưa, TPHCM, 1987, tr.77.

(8)- André Masson, Hanoi pendant la période héroïque 1873-1888, Geuthner, 1929, tr. 168-169.

(9)- Docteur Hocquard, Une campagne au Tonkin, Arléa,1999.

(10)- Claude Bourrin, Le vieux Tonkin, 1890-1894, IDEO, 1941.

(11)- Charles Meyer, La vie quotidienne des Français en Indochine, 1860-1910, Hachette, 1985, tr. 73.

(12)- Quốc sử quán triều Nguyễn, Đồng Khánh, Khải Định chính yếu, Thời Đại, 2010, tr. 431.

(13)- Vũ Bằng, Hà Nội trong cơn lốc, Phụ Nữ, 2010, tr. 72.

(14)- Tam Lang, Tôi kéo xe, Hội Nhà Văn, 2014, tr. 123-124.

(15)- Phan Cẩm Thượng, Văn minh vật chất của người Việt, Tri Thức, 2011, tr. 73.