Pháp
Hiển viếng thăm cung điện Ashoka ở Ấn Độ
(tranh
tưởng tượng)
Có
thể nói Phật giáo đã được đưa vào Trung Quốc bằng
hai con đường: đường bộ qua Tây Vực và đường thủy
ven biển Nam.Về niên đại của việc di chuyển văn hóa
này thì có nhiều thuyết nhưng đa số cho rằng nó đã
xảy ra vào thời Minh Đế (trị vì năm 57-75) nhà Hậu
Hán.
Vào thế kỷ thứ
6, tác phẩm nhan đề Lạc Dương Già Lam Ký của Dương
Huyền Chi đã nhắc tới. Ông cho biết đằng trước ngôi
chùa tên Bạch Mã Tự có trồng thạch lựu và bồ đào
(hai loại quả đến từ Tây Vực). Trong đoạn đó còn
có những dòng đại ý như sau:
Chùa Bạch Mã
do Hán Minh Đế dựng lên là nơi phát tích Phật giáo
Trung Quốc.Chùa nằm ở phía Nam trên con đường lớn
khoảng 3 dặm ngoài cổng Tây Dương Môn. Nhà vua nằm mộng
thấy một vị thần bằng vàng, cao một trượng sáu,
trên cổ sau lưng có hào quang như mặt trăng mặt trời.
Đó là Phật, tên một vị thần của người Hồ. Bèn
gửi sứ giả sang Tây Vực để tìm kiếm. Có nghĩa
là đi lấy kinh và tượng. Có lúc chở kinh trên lưng
ngựa trắng (bạch mã) mà mang về nhân đó mà chùa mới
có tên như vậy.
Truyền thuyết
vừa kể là một câu chuyện nổi tiếng. Minh Đế nằm
mộng thấy một vị thần mình vàng nên gửi sứ giả
sang Tây Vực, đem kinh văn và tượng Phật chở bằng ngựa
trắng mang về. Do đó ngôi chùa mới có tên Bạch Mã.
Theo phần Thích
Lão Chí (Ghi chép về Đạo Phật và Đạo Lão) trong Ngụy
Thư, sứ giả là bọn Lang Trung (quan cố vấn) tên là Sái
Am và Bác Sĩ Đệ Tử Tần Cảnh. Sau đó, các sứ giả
đã trở về kinh đô Lạc Dương cùng với hai sa môn Nhiếp
Ma Thắng và Trúc Pháp Lan.
Nếu như truyền
thuyết này đúng sự thực thì Phật pháp đã được
du nhập vào Trung Quốc bằng con đường bộ băng qua Tây
Vực.
Đó là con đường
truyền đạo được công bố chứ thực ra trước thời
đó, thương nhân gốc Tây Vực đã đến Lạc Dương buôn
bán rất nhiều. Đương thời, người dân Tây Vực hầu
hết đều là Phật giáo đồ. Khi đi đến Lạc Dương
thì mỗi người đều mang theo niềm tin Phật giáo trong
lòng mình nên bằng cách đó, họ đã trực tiếp đưa
nó vào. Chắc chắn ở thành Lạc Dương, họ đã xây dựng
một nơi chốn dành cho tín ngưỡng ấy và tôi tự hỏi
không biết có phải là Bạch Mã Tự này hay không?
Người Tây Vực
đã cử hành tín ngưỡng của họ trước mắt cư dân
thành Lạc Dương. Người Lạc Dương chắc đã nhìn họ
bằng con mắt hiếu kỳ mà thôi chứ chưa bị lôi cuốn
vào trong.Tiếng nói đã không thạo, ý nghĩa tôn giáo
lại không thông mà cho dầu có hiểu được đi nữa,
nội tâm họ vẫn chưa có nhu cầu. Phải chăng chỉ đến
đời Tam Quốc, một thời loạn lạc, lần đầu tiên
con người mới đặt vấn đề về sự khổ não của
kiếp người và bắt đầu để ý đến cái tôn giáo
này của người Tây Vực.
Nếu thực sự
có việc Minh Đế gửi sứ giả sang Tây Vực thì động
cơ của ông có thể gồm cả việc ông yêu thích những
gì xa lạ hay muốn thu lấy lợi lộc từ việc cai quản
được người Tây Vực. Còn việc muốn có tượng kim
thân lóng lánh để thờ thì có lẽ tại ông thấy nó
là cao sang.
Nghe nói, vào thời
Hậu Hán, trong cung điện có đặt tượng Phật để
lễ bái. Người trong cung làm như vậy chắc để tỏ
ra là mình cao cấp hơn, làm được những chuyện người
thường không có khả năng. Chúng ta đã nói đến việc
độc quyền trồng thạch lựu và bồ dào trong cung rồi.
Chuyện trưng bày tượng Phật cũng giống như thế. Đối
với người thường dân, những pho tượng ấy giống
như đóa hoa trên đỉnh núi cao, nghĩa là ngoài tầm tay
của họ.
Cung đình chính
ra không xa Bạch Mã Tự bao nhiêu. Chùa ấy chỉ nằm ở
ngoại ô thành Lạc Dương, nơi thường dân có thể lui
tới. Câu nói "có những nơi thấy gần mà hóa ra xa"
(chắc trích dẫn nữ sĩ Sei Shônagon, NNT) dành cho Phật
giáo là ở trong nghĩa đó.
Người Trung Quốc,
trước khi bị Phật giáo thu hút, đã phải có một số
tri thức cơ sở về nó. Dù chỉ là bề mặt nhưng cũng
đáng kể.
Ở chùa Bạch
Mã, hẳn có tăng lữ gốc Tây Vực nhưng có lẽ họ chỉ
có đủ thời giờ để chỉ đạo đời sống tâm linh
của những người Tây Vực lưu ngụ chứ không có ý
định truyền bá Phật giáo rộng rãi đến cả người
Trung Quốc. Đến đời Tam Quốc chiến loạn, người Trung
Quốc bị cuốn vào cơn binh lửa, mới thấy rằng những
khổ não của mình là khổ não chung của kiếp người.
Và khi thấy rằng người Tây Vực cũng là những con
người như mình thì cánh cửa của Phật giáo đã bắt
đầu mở ra cho họ chứ trong một thời gian dài, Phật
giáo không là gì cả ngoài màu sắc hương xa (exotic) của
nó.
Về đợt sa môn
Thiên Trúc đã đến Trung Quốc vào thời Hậu Hán của
Minh Đế, như đã nói, chúng ta có vài thông tin đến
từ phần Thích Lão Chí của sách Ngụy Thư
Ngụy Thư 魏書
hoàn thành vào năm 554, soạn giả là người triều Bắc
Tề, tên gọi Ngụy Thu 魏収. Cũng cần mở một dấu
ngoặc ở đây để tránh lầm lẫn. Sách Tam Quốc Chí
cũng có 3 phần gọi là Ngụy Thư, Thục Thư và Ngô Thư.
Vì hai sách có tên giống nhau cho nên người đời mới
gọi Ngụy Thư trong Tam Quốc Chí là Ngụy Chí cho
khỏi lộn. Khi đọc sử Nhật, Ngụy Chí Nụy Nhân
Truyện thường được các sử gia nhắc đến là Ngụy
Thư trong Tam Quốc Chí vậy. Chính ra Tam Quốc Chí ra
đời trước Ngụy Thư nhưng quyển sách trước phải đổi
danh xưng vì quyển sách đến sau. .
Trên toàn quốc,
lại có hai triều đình cùng mang tên là Ngụy nên càng
gây thêm khó khăn. Nước Ngụy do Tào Phi, con trai Tào Tháo
lập ra nối tiếp nhà Hậu Hán đã chính thức bắt
đầu vào năm 220. Lại có Bắc Ngụy của Vũ Đạo Đế
qui định năm 386 là Đăng Quốc nguyên niên, năm kiến quốc
của triều đại. Ngày nay, tôi và các bạn gọi nó là
Bắc Ngụy cho tiện chứ đương thời, người nước ấy
chỉ gọi suông là Ngụy.
Thích Lão Chí
nằm ở quyển cuối cùng trong Ngụy Thư của nước gọi
là Bắc Ngụy nói trên. Nó bàn về Phật giáo (Thích)
và Đạo giáo (Lão). Đối với thời điểm của Bắc
Ngụy này thì Hậu Hán của Minh Đế là một quá khứ
xa xôi 500 năm về trước nên việc nó có tường thuật
mọi chuyện chính xác hay không hãy còn là nghi vấn.
Chúng ta trông đợi
cũng hoài công vì quyển sách quan trọng là Hậu Hán
Thư, phần Minh Đế bản kỷ thì không thấy chép gì về
việc sa môn Thiên Trúc vào triều, cả việc hoàng đế
gửi sứ giả sang Tây vực.
Do đó, trong lịch
sử, buổi đầu của Phật giáo tại Trung Quốc chỉ được
nhắc đến một cách bâng quơ, thiếu chính xác như thế.
Sau một thời
gian dài xem Phật giáo như một thế giới biệt lập,
người Trung Quốc mới thấy nó có thể là một phương
tiện cứu vớt linh hồn. Những người khai tâm về kiến
thức cơ sở của Phật giáo cho họ, có lẽ không ai khác
hơn là các nhà sư Tây Vực.
Trong Tam Quốc Chí,
có Nụy nhân truyện (nói về người Nhật) nhưng không
có Tây Vực truyện. Có lẽ vì thời đó, Con Đường
Lụa bị chiến tranh phong tỏa nên tin tức không thông. Những
người Tây vực sống trên đất Đường bị cắt đứt
với quê hương, đã có những trường hợp họ bị Hán
hóa. Việc Hán hóa của người Tây vực, ngược lại,
đã trở thành động cơ khiến cho Phật giáo thấm sâu
hơn vào xã hội Trung Quốc.
Vào thời quần
hùng cát cứ Trung Quốc, Phật giáo có cơ hội phổ
biến trên toàn quốc.Lý do là có nhiều tướng lãnh
xem Phật giáo như một dụng cụ cầu đão bùa chú, có
thể đem lại thắng lợi trong chiến tranh nên thường đem
các nhà sư theo mình khi hành quân.
Đến khi Phật
giáo đã lan tỏa đến độ đó, tín đồ không còn
thỏa mãn với những kiến thức cơ bản từ các nhà
sư Tây vực nữa. Bao nhiêu câu hỏi nảy ra trong đầu họ
nhưng không một ai giải đáp được cho. Từ đó, họ
có nhu cầu sang Ấn Độ là nơi phát tích của Phật
giáo để tìm ra ý nghĩa uyên áo của tôn giáo này.
Con đường từ
Trung Quốc đến Ấn Độ hết sức xa xôi, lại đầy
gian khổ. Thế nhưng vẫn có một số người quyết
tâm vượt qua những khó khăn này để cầu đạo.
Đó là những
nhà sư thỉnh kinh (cầu pháp tăng).
Đời Đường
có tăng Nghĩa Tĩnh 義浄 (Yijing, 635-713, sống sau Pháp Hiển
法顕 và Huyền Trang玄奘, NNT) đã thu thập được tên
của 56 vị sư thỉnh kinh trong hai quyển Đại Đường Tây
Vực Cầu Pháp Cao Tăng Truyện. Dĩ nhiên tên của 56 vị
được kể ra chỉ là một nhóm nhỏ so với con số trên
thực tế.
Hành
trình thỉnh kinh bằng đường biển của Nghĩa Tĩnh
Khi nhắc đến
những nhà sư đi thỉnh kinh, thường thì chúng ta nghĩ
ngay đến Pháp sư Huyền Trang (Xuanzang) Tam Tạng. Có lẽ
vì bộ Tây Du Ký in bản bỏ túi đã trở thành cuốn
truyện người bình dân yêu chuộng. Hơn nữa, trứ tác
của Huyền Trang hãy còn được lưu truyền, nó giúp
chúng ta hiểu được trong một chừng mực nào đó về
chuyến đi.
Nhiều nhà sư
thỉnh kinh đã viết hồi ký về cuộc lữ hành của
họ nhưng số còn giữ lại được rất hiếm hoi. Tên
tuổi chúng tuy được các sách vở khác nhắc lại nhưng
hiện vật hầu như đã mất hết. Phải nói là những
tác giả mà tác phẩm còn giữ lại được là loại
người cực kỳ may mắn và Huyền Trang cũng là một
nhà sư thỉnh kinh may mắn.
Người ta thường
so sánh Pháp Hiển (Faxian, Fa Hsien) với Huyền Trang. Hai
người đều phải trải qua bao nhiêu gian nan tân khổ mới
đến được Thiên Trúc, được sống ở đó một thời
gian dài rồi lại được về đến cố hương. Tuy nhiên
họ vẫn có chỗ không giống nhau. Pháp Hiển rời Trung
Quốc vào năm 399 và Huyền Trang, năm 629, nghĩa là vừa
đúng 230 năm sau. Về tuổi tác ngày lên đường thì
Pháp Hiển 64 tuổi, còn Huyền Trang 27 (Vẫn biết năm
sinh năm mất của hai vị thì không ai rõ nhưng sai số cũng
khoảng độ 2, 3 năm là cùng). Theo tôi thì sự cách biệt
về tuổi tác lúc ra đi là rõ rệt hơn cả.
Huyền Trang lên
đường vào năm Trinh Quán thứ 3 đời Thái Tông là thời
nhà Đường mới bắt đầu và đang ở trên con đường
đi đến thịnh vượng. Thời đó, nhà Tùy đã thống
nhất Nam Bắc được 40 năm, thiên hạ hầu như thái bình.
Huyền Trang đang ở cái tuổi 27 trẻ trung, giống như một
đóa hoa vừa chớm nụ, đã được khí thế của thời
đại mới nâng cao khi ông bỏ Trường An lại sau lưng. Còn
Pháp Hiển thì ông đã ra đi vào giữa một thời đại
chia cắt với Ngũ Hồ Thập Lục Quốc. Chủ nhân của
Trường An đổi từ Tiền Tần qua Tây Yên đến Hậu
Tần, thời cuộc quay nhanh như chong chóng và chính quyền
đều nằm trong tay những dân tộc phi Hán tộc như Đê,
Tiên Ti và Khương. Đó là một thời đại tối tăm kinh
hoàng chứ không hề chứa chan ánh sáng. Pháp Hiển dường
như cũng bị thời đại ấy đẩy trôi dạt ra ngoài, phải
mang tấm thân già 64 tuổi lìa bỏ Trường An.
Mười sáu năm
sau, Huyền Trang mới trở lại kinh đô, còn Pháp Hiển
thì về nước đúng 13 năm sau ngày ra đi. Dù là 16 năm
nhưng khi về, Huyền Trang vẫn ở trong thời kỳ hoạt
động với lứa tuổi ngoài 40. So với ông thì lúc đó,
Pháp Hiển sắp trở thành một cụ già 80 rồi.
Việc Pháp Hiển
sang Thiên Trúc là một hành động cổ vũ tinh thần
chúng ta. Một người đã 64 tuổi mà còn dám băng qua
sa mạc bao la của Tây Vực, vượt những ngọn núi tuyết
cao lạnh khắc nghiệt để đến được Thiên Trúc. Phải
nói đây là một hành động quả cảm khiến cho những
kẻ ươn hèn cũng phải vùng dậy. Đối với những người
cao tuổi hay thân cận của ông thì sự nghiệp của Pháp
Hiển quả là một tấm gương sáng ngời.
Đôn Hoàng vốn
là cửa ngõ vào Tây Vực. Thế nhưng Pháp Hiển không
tới được ngay Đôn Hoàng mà còn phải đánh một vòng
xa. Vì lúc đó là thời chiến loạn, ông phải tránh
những vùng đang có tranh chấp. Hơn thế nữa, lộ phí
của chuyến đi còn tùy thuộc lòng hỷ xả của mọi người
nên tự nhiên, cuộc hành trình phải theo hình chữ chi
之để đi ngang qua những nơi mà tín hữu có lòng hảo
tâm.
Hành
trình thỉnh kinh khứ hồi thủy lục của Pháp Hiển
Từ Trường
An, Pháp Hiển đã đi qua Uyển Châu, Trướng Dịch, Đôn
Hoàng, Thiện Thiện (Lâu Lan), Qui Tư, Vu Điến, Tử Hội,
Sơ Lặc, các phần đất nay thuộc Nepal, Afghanistan và Pakistan
rồi vào Madura trên nước Ấn, thăm những thắng tích
có in bước chân Phật và đến tận thành Vương Xá.
Trên Đường về, ông ghé Sư Tử Quốc (Sri Lanka), Già
Bà Đề Quốc (Java), qua eo biển Malacca, nhiều lần bị
bão đánh trôi dạt, cuối cùng may mắn cập bến Lao Sơn
ở Sơn Đông.
Lúc ấy, khắp
Đông Tây Nam Bắc, đâu đâu cũng có chiến tranh. Ngoài
ra, bối cảnh chuyến đi của Pháp Hiển cũng khác xa với
chuyến đi của Huyền Trang cách đó 230 năm sau.
Pháp Hiển có
4 người đồng chí hướng: Huệ Cảnh, Đạo Chỉnh, Huệ
Ứng, Huệ Ngôi. Họ đã đồng hành với ông từ ngày
rời Trường An để xuất phát. Đến Trướng Dịch,
đoàn có thêm 5 người nữa là Trí Nghiêm, Trí Giản,
Tăng Thiệu, Bảo Vân và Tăng Cảnh. Đến Vu Điến thêm
được Huệ Đạt nhập đám. Từ đấy, tính cả Pháp
Hiển, đoàn có tất cả 11 người. Thế nhưng giữa cuộc
hành trình, người bệnh tử, người lưu lại dọc đường,
kẻ quay về, rốt cuộc kiên trì đến nơi đến chốn
chỉ có mỗi mình ông. Chỉ có thể nói Pháp Hiển là
một người có ý chí bất di bất dịch mà thôi.
Suốt quãng đường
dài, không nơi nào họ gặp nhà dân. Nhất là lúc qua
sa mạc, gian nan không thể tả. Pháp Hiển không phải siêu
nhân. Ông mang thân xác của một người phàm, lại thêm
già yếu. Đến Tiểu Tuyết Sơn thì Huệ Cảnh vì lạnh
cóng mà chết. Pháp Hiển chỉ biết vỗ thây than khóc.
Trong số bạn đồng
hành thì Trí Nghiêm, sau khi đến Kashmir đã bỏ đoàn
để quay về Trường An. Ông này sau theo đường biển
nhắm Thiên Trúc thêm một lần nữa. Nghe nói ông chết
già ở Kashmir. Bảo Vân đi đến được miền Bắc Ấn
Độ rồi quay về, chuyển sang dịch kinh. Còn Đạo Chỉnh
thì ở lại Thiên Trúc chứ không về quê hương.
Pháp Hiển không
phải người đầu tiên trong số các nhà sư thỉnh kinh
(Cầu pháp tăng) đâu. Trước ông 140 năm đã có người
thời Ngụy là Chu Sĩ Hành. Ngoài ra, cũng vào thời của
ông (Đông Tấn), hai đệ tử của Huệ Viễn (Hui-yuan, 334-416)
ở Lư Sơn là Pháp Tĩnh và Pháp Lĩnh cũng đã lên đường
sang Tây Vực cầu pháp.
Chu Sĩ Hành, sang
Thiên Trúc trước Pháp Hiển những 140 năm, có thể được
xem như là người đầu tiên đi thỉnh kinh nếu không nói
là kẻ đầu tiên đã xuất gia ở Trung Quốc.
Người sống trong
cung đình thời Hậu Hán tuy có bày biện tượng Phật
màu vàng nhưng họ làm như vậy chỉ là để có không
khí hương xa (exotic mood) chứ không thể nói hành động
đó xuất phát từ lòng tin tôn giáo.Trong bọn họ, không
thấy có một người xuất gia.
Nếu bảo là thực
sự thụ giới xuất gia thì theo các sách vở ghi chép
lại chỉ có Chu Sĩ Hành, người sống vào thời Ngụy
(một trong Tam Quốc, thế kỷ thứ 3). Ông ta người Dĩnh
Châu (tỉnh Hà Nam). Sau khi đã xuất gia, ông đi đến Lạc
Dương để giảng "Đạo Hành Bát Nhã Kinh" nhưng vì cảm
thấy sách vở thiếu sót, ý nghĩa không thông nên mới
nghĩ đến việc đi tìm nguyên tác. Do đó, năm Cam Lộ
thứ 5 (260), ông mới từ giã Trường An để lên đường.
Ông đến được Vu Điến và tìm ra nguyên bản của kinh
văn như lòng hằng mong ước nhưng chỉ nhờ đệ tử mang
về, còn mình thì ở lại rồi sau qua đời ở đất
ấy.
Người xuất gia
đầu tiên cũng là người đi thỉnh kinh đầu tiên, thật
là định mệnh lạ lùng của Phật giáo Trung Quốc!
Còn nói về Pháp
Tĩnh và Pháp Lĩnh, hai học trò của Huệ Viễn ở Lư
Sơn và là người đồng thời với Pháp Hiển thì họ
cũng đã đến được Vu Điến và tìm ra kinh Phật nhưng
rồi ở lại đó chứ không đi xa thêm nữa. Vu Điến
ngày nay là vùng Hòa Điền (Khôtan) thuộc khu tự trị
của người Ouguir ở Tân Cương. Từ đó mà muốn đi
đến Ấn Độ thì đường hãy còn xa.
Có thể là sách
vở đời sau không nhắc đến những người đi thỉnh
kinh vì lý do này hay lý do khác đã không đến được
Thiên Trúc và buộc lòng quay về. Người đầu tiên đến
được Thiên Trúc mà chúng ta biết tới là Pháp Hiển.
Để đặt chân lên vùng Bắc Thiên Trúc, ông đã mất
3 năm dầu dãi trên con đường xuyên Tây Vực. Lúc đến
nơi, ông đã 67 tuổi.
Hồi ký chuyến
đi của Pháp Hiển thường được gọi là "Pháp Hiển
Truyện" nhưng nó còn có những biệt danh khác như "Phật
Du Thiên Trúc Ký", Lịch Du Thiên Trúc Ký Truyện", Phật
Quốc Ký" vv...Theo những gì chép trong hồi ký đó thì
sau khi ra khỏi Đôn Hoàng được 17 ngày, ông đã đến
một nơi gọi là Thiện Thiện Quốc. Nước Thiện Thiện
nằm bên bờ hồ Lobnor. Đất này ngày xưa có tên là
Lâu Lan nhưng nay tất cả đã bị vùi sâu dưới cát.
Pháp Hiển có
ghi lại là đất này hiểm trở và cằn cỗi. Từ đó
đi về phía Tây Bắc 15 ngày nữa, ông đã đặt chân lên
Ô Di Quốc (Ui). Nước này chính là A Thị Ni Quốc (Agini)
được kể ra trong Đại Đường Tây Vực Ký của Huyền
Trang. Hiện nay nó là huyện Yên Thị (Engi) trong khu tự
trị của tộc Hồi. Theo những gì kể lại thì đương
thời, người ở Yên Thị đã cư xử không đúng lễ
nghĩa và tỏ ra lạnh nhạt với đoàn của Pháp Hiển.
Lâu
Lan cổ thành
"Hoàng sa bách
chiến xuyên kim giáp,
Bất phá Lâu
Lan chung bất hoàn"
(Tòng quân hành,
thơ Vương Xương Linh)
Đi thêm 35 ngày
nữa, cuối cùng đoàn của Pháp Hiển đã đến được
Vu Điến. Đây là một nước giàu có, dân chúng ân cần.
Khác với khi đi qua Thiện Thiện đất cát cằn cỗi
và Ô Di dân chúng không lễ nghĩa, đến được Vu Điến,
Pháp Hiển như thở phào. Ở Vu Điến, số tăng sĩ có
đến hàng vạn, thức ăn thức uống đều do quốc vương
cúng dường. Đó gọi là "chúng thực". Ngoài ra trước
cửa nhà thường dân còn có dựng những cái tháp nhỏ.
Gọi là "nhỏ" nhưng cái nhỏ nhất cũng phải cao đến
hai trượng. Thời đó, trượng không lớn như bây giờ,
tính ra mỗi trượng chỉ độ 2,5 m. Như vậy, tháp dựng
lên trước nhà dân phải cao trên 5m. Bốn phương còn có
đặt những tăng phòng để cho các nhà sư đang trên đường
lữ hành có thể lưu trú.
Nơi đây có thể
nói là chốn cực lạc của các nhà sư. Bắt đầu là
Chu Sĩ Hành rồi sau là đến lượt các nhà sư thỉnh
kinh tiên phong khác, như một qui định, họ đều ghé qua
đây. Nếu họ có dừng chân chứ không đi tiếp nữa,
tôi nghĩ cũng là chuyện dễ hiểu. Bởi vì tới được
chốn này, họ đã phải kinh qua nhiều gian khổ. Và con
đường trước mặt, gian khổ nào có kém chi. Sau khi đã
qua khỏi những mảnh đất cằn cỗi, những sắc dân thiếu
lễ nghĩa và lãnh đạm với mình để đến một nơi
sung sướng như thế này rồi, các thày bụng bảo dạ
tội gì phải đi xa hơn nữa.
Riêng Pháp Hiển
không nghĩ như thế và ông cứ dấn bước. Ông ở lại
Vu Điến có 3 tháng nhưng chỉ là để xem một lễ hội
gọi là "Hành tượng" chứ không phải coi vương quốc
này như đích nhắm cuối cùng.
"Hành tượng"行像
(Procession of images) được biết là cuộc diễu hành qua
các nơi trong phố xá với cỗ xe trang trí đẹp đẽ có
đặt tượng Phật bên trong. Nghe định nghĩa như thế,
chúng ta có thể liên tưởng đến những đám rước
trong các lễ hội Thần đạo ở Nhật. Xe dùng trong "Hành
tượng" ở Vu Điến cao độ 3 trượng, trang sức thất
bảo (bảy loại đá quí) và có màn che trướng phủ chẳng
khác nào các xe hoa trong lễ Gion (Kỳ Viên) ở Kyôto.
Các xe được
đóng ở ngoại thành rồi rước tượng Phật của các
chùa đặt vào bên trong. Ngoài ra, chung quanh tượng Phật
(có lẽ là Đức Thích Ca) còn có bồ tát và thiên
vương hộ giá. Vì Pháp Hiển dùng 4 chữ "kim ngân điêu
oánh" để diễn tả, ta có thể hiểu chúng là những
vật trần thiết tạm làm ra cho dịp đó ngoài tượng
chính (gọi là honzon = bản tôn) mà các chùa đã có sẵn.
Khi xe đến trước
cổng thành thì nhà vua sẽ cởi mão miện, thay áo nhẹ,
ra đón các tượng, rải hoa và xông hương. Hoàng hậu
cũng như các cung nhân từ trên lầu thành cũng rắc hoa
xuống. Những đóa hoa muôn sắc rưới lên trên cỗ xe
lộng lẫy này là một cảnh tượng hết sức hoa lệ.
Một nơi có đến
vài vạn tăng nhân như Vu Điến, con số tự viện ắt
cũng nhiều.Trong số đó là 14 ngôi chùa lớn, mỗi ngày
một chùa thay nhau hành lễ cho nên phải mất tất cả
là 14 ngày. Ngôi chùa nơi Pháp Hiển trú chân là Cù
Ma Đế Tự (Gomati), chùa lớn nhất trong 14 đại tự viện
ấy. Ngày đầu tiên của Hành tượng phải được cử
hành tại đây.
Theo "Pháp Hiển
Truyện" thì Hành tượng được tổ chức hàng năm từ
ngày 16 cho đến ngày 29 tháng tư âm lịch. Nguyên lai cuộc
lễ này bắt đầu từ mùng 8 tháng tư là sinh đản của
Đức Phật Thích Ca nhưng Vu Điến vì một lý do nào
đó đã dời lại đến mấy ngày sau. Phải chăng vì
ngày kỷ niệm đức Phật đản sinh có những nghi thức
như lễ Tắm Phật (Quán Phật Hội), nếu ghép cả hai
lễ làm làm một thì dân chúng quá đổi bận rộn.
Do đó, để khỏi trùng phức, họ phải tách hai lễ ấy
ra. Ngoài vùng Tây Vực ra, cũng có những nước khác
cử hành Hành tượng vào ngày Thu phân. Ở các nước
Đông Nam Á, họ tổ chức vào ngày rằm của tháng Vesak.
Người Nhật gọi
ngày Phật đản sanh là Hana-matsuri 花祭 (Ngày lễ
hoa). Tuy có làm lễ tắm Phật nhưng hầu như không có
đám rước (kiểu Hành tượng). Nhân vì Đức Phật
sinh ra dưới vòm cây hoa sa-la cho nên người Nhật mới
có tập quán dựng một nơi tên là Hana Midô 花御堂 (Hoa
Ngự Đường) và làm lễ tắm Phật bằng nước
amacha
甘茶 (cam trà). Vì có truyền thuyết là khi Đức Thích
Ca ra đời thì có voi đến phun nước thơm cho ngài nên
bên Trung Quốc và Ấn Độ mới cử hành lễ tắm Phật
bằng nước thơm (hương thang) như vậy. Ở Nhật thì vào
thời Edo, người ta đã thay hương thang bằng nước amacha
(cam trà, tức nước pha bằng một loại hoa ajisai
để khô). Không biết mùi hương ấy như thế nào, chỉ
biết nó có vẻ thích lợp hơn đối với người Nhật.
Tại sao người
Nhật lại không rước tượng Phật (Hành tượng) như
người bên đó vậy?
Chính ra việc
tuần hành thường dính liền với tôn giáo. Ki-tô giáo
cũng có đám rước kiệu gọi là Procession. Đạo Hồi
phái Shi-a thì nổi tiếng với các Tâjia. Tâjia là vở
kịch diễn lại cảnh tử đạo của Hussein, một vị thánh
của họ nhưng còn kèm theo cuộc tuần hành của các kỵ
sĩ ngoài đường phố. Nhiều khi vì diễn xuất quá
cuồng nhiệt nên những cuộc tuần hành này đã đưa
đến rối loạn trật tự khiến chính phủ phải ngăn
cấm như trường hợp ở Iran.
Ở Nagasaki có
cử hành đám rước tên gọi
Bosatsu azukari (Gửi
tượng Phật). Các tàu buôn Trung Quốc (vốn đem theo tượng
Thần Phật để thờ trong thuyền gọi là Funa-bosatsu)
khi vào cảng Nagasaki phải đem ký thác các tượng thờ
cho các chùa Tàu ở đó trông coi hộ cho đến ngày về.
Đám rước để đi gửi đó có tên là Bosatsu-nose.
Lý do là đời Edo có qui chế cấm đạo Ki-tô rất khắt
khe cho nên thương nhân Trung Quốc muốn chứng tỏ trước
mọi người họ không phải là những người theo đạo
ấy. Đám rước này có màu sắc hội hè đặc biệt
tuy phải nói đấy là một hành động không mấy cần
thiết. Thần Phật mà người Trung Quốc mang theo để
mong cho cuộc hành trình trên biển được an toàn chủ
yếu là nữ thần Mã Tổ (Thiên Hậu) và Quan Đế (Quan
Công) nhưng cả hai đều không phải là Phật. Có lẽ ở
Nhật đã có các đám rước của thần xã rồi nên
các chùa giữ ý không cạnh tranh làm gì. Hoặc giả là
Thần đạo đã hấp thu Hành tượng – một tập quán
lâu đời của Phật giáo – và đem ứng dụng cho mình.
Điều này xem ra có vẻ hợp lý vì ở Nhật, xưa nay
vẫn có một sự dung hợp giữa Thần đạo và Phật
giáo. Chẳng hạn giữa chùa Enryaku và đền Hiyoshi, (ở
vùng Kyoto, NNT), cũng có một sự phân chia công việc liên
quan đến lễ lạc, hội hè khá gọn ghẽ. Dù sao đi nữa,
vì thiếu những đám rước như vậy, mà tượng Phật
trong các chùa Nhật không được đem ra sáng nên cũ kỹ
và mốc thếch.
Huyền Trang lúc
đi đã theo con đường phía Bắc (Thiên Sơn Bắc Đạo, NNT)
nên không ghé ngang Vu Điến. Dù vậy, ông có ghé nơi
đó trên đường về. Ông ở đây một ít lâu, dùng
thời gian để viết biểu văn dâng cho hoàng đế và
gửi thương đội đem về dùm. Thực ra, khi sang Thiên Trúc,
Huyền Trang đã đi lén không giấy tờ. Bao lần ông xin
giấy phép chính thức nhưng đều bị từ chối. Cho dù
lúc ấy Trung Nguyên đã hòa bình, thống nhất nhưng nhà
Đường vẫn còn lo lắng về trị an ở vùng biên cảnh.Với
nhiều nước láng giềng họ hãy còn chưa có thỏa ước
ngoại giao nên mới phòng xa mà ra lệnh cấm người trong
nước xuất cảnh.
Huyền
Trang
Vì nóng nảy lên
đường cầu đạo nên chàng tuổi trẻ Huyền Trang không
đợi đến khi có giấy phép chính thức, đã nhắm hướng
Tây trực chỉ Thiên Trúc. Cho dù với mục đích thỉnh
kinh hay là gì đi nữa, xuất cảnh mà không có giấy
thông hành, Huyền Trang đã phạm vào phép nước.
Về ngày Huyền
Trang ra khỏi Trường An, có hai thuyết. Một cho là năm
627, thuyết khác cho là 629. Khi ông về tới Vu Điến là
năm 644 nghĩa là mười mấy năm sau ngày lên đường thì
tình thế lúc đó đã thay đổi, chẳng hạn Cao Xương
không còn là ngoại quốc vì (d)ất đai bị sáp nhập
vào bản đồ nhà Đường. Hơn nữa, may mắn cho Huyền
Trang là trong những năm ở Ấn Độ, ông đã đạt nhiều
thành quả học tập và thu thập được nhiều bộ kinh
quí. Giới Phật giáo nhà Đường đang trông ngóng ngày
ông hồi hương mà có lẽ chính hoàng đế cũng rất
vui nếu biết tin ông. Cái tội bí mật xuất cảnh mười
mấy năm về trước chắc nay không còn là vấn đề
nữa. Dù vậy, Huyền Trang vẫn ý thức mình là kẻ
có tội nên phải có mấy hàng trần tình và xin nhà
vua rộng lượng khoan dung. Bởi vì ngoài việc truyền
bá Phật giáo về phương Đông và thỉnh những Phật
điển quan trọng, động cơ ra đi của Huyền Trang còn là
muốn đạp chân lên mảnh đất nơi phát nguyên ra tôn giáo
ấy:
... Xảy đến
tháng 4 năm Trinh Quán thứ 3, thần đã phạm vào hiến
chương (phép nước) mà lên đường sang Thiên Trúc. Dẫm
chân trên sa mạc bao la, vượt những rặng núi tuyết cao
vòi vọi, bất chấp đường đi khó khăn hiểm trở,
sóng lớn biển sôi, bắt đầu từ thần ấp Trường
An, chấm dứt ở tân thành Vương Xá. Giữa hai nơi, thần
đã phải vượt qua hơn 5 vạn dặm...
Khi đọc xong, Đường
Thái Tông đã trả lời với một nội dung hoan nghênh
như sau:
...Trẫm nghe
nhà thày đã đi qua những vùng đất lạ, nay vô sự
về đến quê nhà nên lòng rất hoan hỉ. Hãy mau mau đến
đây cho trẫm được tương kiến.
Không chỉ có mỗi
hoàng đế mà cả dân chúng thành Trường An cũng nồng
nhiệt nghênh đón. Huyền Trang đi thuyền theo kênh đào
vào thành rồi định lên cạn nhưng vì dân chúng tụ tập
đông quá nên ông không thực hiện được, đành phải
qua đêm trong thuyền.
Ngày hôm sau tức
mồng 7 tháng giêng năm Trinh Quán 19 (645), Huyền Trang rốt
cuộc mới lên bờ, bày kinh văn và tượng Phật mình
mang được về ở phía Nam cửa Chu Tước thành Trường
An.
Hành
trình thỉnh kinh bằng đường bộ của Huyền Trang
Thái Tông lúc
đó đã đi Lạc Dương đốc chiến đạo quân đi viễn
chinh Cao Lệ (trên bán đảo Triều Tiên), tạm giao quốc
chính cho Tể Tưởng Phòng Huyền Linh. Do đó Huyền Trang
mới lên đường đi Lạc Dương và vào chầu Thái Tông
ở điện Nghi Loan. Câu đầu tiên, nhà vua đã hỏi:
- Cớ
sao nhà thầy khi ra đi không tâu báo?
Ý nói mười mấy
năm về trước, Huyền Trang đã không xin phép xuất cảnh.
Thế nhưng làm gì có chuyện một nhà sư trẻ phải đạo
đạt nguyện vọng lên tận hoàng đế như vậy. Huyền
Trang cho biết đã dâng biểu nhiều lần nhưng không nhận
được giấy phép:
- Cái
tội tự chuyên, dám mong được tha thứ.
Thái Tông mới hiểu
dụ rằng nhà ngươi là kẻ xuất gia, đâu phải tục nhân,
nên không hỏi tội. Hơn nữa, hành động bất chấp gian
nan, không tiếc mạng sống mà đi cầu đạo, mang lại lợi
ích cho dân lành như thế là việc đáng khen ngợi.
Thế rồi Thái
Tông nhân đánh giá cao tinh thần bất khuất , nhân cách
và kiến thức của Huyền Trang qua chuyến lữ hành đầy
gian khổ, muốn ông hoàn tục, để phò tá nhà vua trong
chính vụ. Dĩ nhiên nhà sư đã cố từ chối vinh dự
ấy.
Vậy là Huyền
Trang đã về nước trong vinh quang.
Nói về Vu Điến
thì đây là một trạm nghỉ chân hằng mong ước của người
thỉnh kinh, dù trong chuyến đi hay chuyến về. Ốc đảo
trù mật này là nơi xoa dịu nỗi nhọc mệt cho họ trên
bước lữ hành. Đối với Huyền Trang, chắc ông đã
nhủ lòng rằng đã đến được đây thời chỉ còn một
thôi đường nữa là tới đích, trong khi Pháp Hiển có
thể băn khoăn vì con đường trước mặt mới gian nan
hơn nhiều.
Có lẽ Pháp Hiển
với tấm thân già yếu đã tìm thấy ở chùa Cù Ma
Đế những bộ kinh mà ông không tài nào kiếm ra ở
Trường An. Như thế ông có thể bằng lòng với chúng
để lập tức quay trở về chứ nào bị bắt buộc
đi chi thêm nữa sau khi đạt được chừng ấy thành quả
khả quan. Có thể Pháp Hiển đã nghe những tiếng nói
dụ dỗ như vậy vọng lên trong lòng. Trong trí ông làm
gì chẳng hiện ra hình ảnh của tiền bối Chu Sĩ Hành,
người đã chọn ở lại nơi đây, hoặc những kẻ bỏ
cuộc quay về như các nhà thỉnh kinh cùng thời là Pháp
Tĩnh và Pháp Lĩnh.
Thế nhưng trong
đầu ông hẳn có một tiếng kêu gọi khác: "Xưa nay chưa
có ai đi thỉnh kinh mà đến được Thiên Trúc. Thế thì
ta phải đi mà thôi!". Như thế, Pháp Hiển đã bỏ Vu Điến
lại đằng sau mà tiến về phía trước. Đi bộ 25 ngày,
ông đến được Tử Hợp Quốc (Shigô) Nước này ngày
nay là huyện Diệp Thành (Kargarik). Tôi đã dùng xe Jeep
để đi ngược từ đây về Hòa Điền (Khôtan, tức
Vu Điến) thì thấy mất 8 tiếng đồng hồ. Phải nói
là đoạn đường này rất khó khăn nhưng so với cảnh
nhà sư già Pháp Hiển phải mất 25 ngày lội bộ thì
hoàn cảnh của tôi còn sung sướng hơn nhiều.
Vượt qua rặng
Thông Lĩnh (Pamir), cuối cùng người thỉnh kinh đã đặt
chân lên đến miền Bắc Ấn. Tân Đầu Hà (sông Indus)
nằm thăm thẳm ở dưới vực sâu nghìn tầm, khách lữ
hành phải tựa vào những bậc thang (gọi là bàng thê)
dọc theo các vách đá dựng thẳng đứng. Đây là thang
kết bằng những khúc cây bắc qua khoảng trống nằm giữa
ghềnh đá, làm chỗ cho khách bộ hành bám chân. Qua
những nhịp cầu treo (điếu kiều) còn phải hết sức
cẩn thận. Nhìn xuống dưới là hoa cả mắt. Sức vóc
một ông già ở tuổi 67 như Pháp Hiển lúc đó thử
hỏi được bao nhiêu!
Động cơ khiến
Pháp Hiển tiến về phía trước là lòng thiết tha
cầu đạo của ông nhưng cũng có lẽ là ý muốn làm
được một việc xưa nay chưa ai thực hiện nổi.Trong
hồi ký lữ hành, ông có viết:
... Đây là nơi
mà vào đời Hán, Trương Khiên và Cam Anh đều chưa đặt
chân tới!
Pháp Hiển ở
lại Ấn Độ 6 năm và dành phần lớn thời gian để
học hỏi giới luật. Đương thời, sách vở nói về
giới luật là lãnh vực Trung Quốc còn rất thiếu
thốn. Trong tình trạng đất nước chia năm xẻ bảy, con
số tăng lữ địa phương đã tăng lên một cách dị thường.
Những kẻ vì trốn quân dịch, phu dịch hay thuế má, lạm
dụng cửa thiền làm chốn dung thân, đông không thể nói.
Khi giáo đoàn đột ngột phình to như thế, nếu không
có giới luật làm căn cứ để kiểm soát, tổ chức
tất sinh ra cảnh hổn loạn. Nó chẳng khác nào tình trạng
của Phật giáo Nhật Bản 350 năm về sau. Chính vì cớ
đó mà người Nhật đã phải mời lão hòa Thượng
Giám Chân (Ganjin, 688-763) – lúc đó đã mù lòa – từ
bên nhà Đường sang để giảng về giới luật. Còn
bên Trung Quốc thì trước đó, lão hòa thượng Pháp
Hiển đã tự mình sang Thiên Trúc tìm hiểu.
Pháp Hiển đã
theo đường biển từ Sư Tử Quốc (Sri Lanka) để về
nước. Thuyền ghé Gia Bà Đề Quốc, Pháp Hiển lưu
lại nơi đây 5 tháng. Nơi đây ngày nay có lẽ là đảo
Java. Sở dĩ lão tăng phải lưu lại đất này những 5
tháng, có thể là vì phải chờ có chuyến để đi
tiếp, hoặc là đã cạn lộ phí, phải đợi các thí
chủ bố thí. Đường bộ sang Tây Vực đã gian nan mà
đường biển cũng không mấy bình an. Từ Sri Lanka qua
Java mất đến 90 ngày. Lý do là họ đã chống trả với
bão tố suốt 13 ngày đêm và phải ghé một hòn đảo
trên đường để tu sửa chiếc thuyền bị hư hại.
Sau đó từ Java,
đoàn đã lấy thuyền đi Quảng Châu. Một lần nưa họ
lại bị bão đánh dạt đến quận Trường Quảng thuộc
Thanh Châu. Địa điểm này ngày nay nằm ở phía nam Giao
Châu Loan tỉnh Sơn Đông.
Huyền Trang Tam
Tạng đã về đến quê nhà như một ông tướng ca khúc
khải hoàn. Thế nhưng việc nhận được quá nhiều vinh
dự như thế chắc ông cũng làm ông đâm ra bối rối.
Dù sao, chuyến về của Pháp Hiển mới thật là thảm
hại. Mười một nhà sư cùng nhau lên đường thỉnh kinh,
chỉ có mỗi mình ông là thấy lại cố hương.
Nhiều khi có lẽ
Pháp Hiển cũng cảm thấy lẻ loi khi đối bóng ngọn
đèn nhưng ít nhất ông cũng đã đem được tượng Phật
cũng như kinh văn – nhất là các tạng kinh về giới
luật - về nước bình yên vô sự. Khi gặp sóng to gió
lớn, những tưởng đã phải đem vứt cả xuống biển
nhưng ông đã niệm Phật Quan Âm và cầu xin chúng tăng
ở quê nhà bảo vệ cho mình.
Ra đi khi mới ngoài
60, tăng Pháp Hiển đã làm một cuộc lữ hành lịch
sử từ Tây Vực đến Thiên Trúc để cầu đạo và
lên đường về nước bằng đường biển vào năm 77
tuổi tức ở tuổi gọi là "hỷ thọ".
Theo sách "Lương
Cao Tăng Truyện" thì ông mất ở tuổi 86 trong một ngôi
chùa tên là Tân Tự ở Kinh Châu (nay thuộc tỉnh Hồ
Bắc). Khi về nước, ông đã dành 10 năm trời để lo
dịch kinh sách và như thế, không hề trở lại Trường
An nữa.
Từ Trường An
để vào Tây Vực, chính ra phải đi ngang qua Hà Tây tứ
quận tức Vũ Uy, Trướng Dịch, Tửu Tuyền và Đôn Hoàng
nhưng vì thời cuộc bất an, ông đã tránh không qua Vũ
Uy. Thực ra việc không đi qua đây có thể là ngả rẽ
của định mệnh.
Người chiếm
giữ Trường An là Phù Kiên (hay Bồ Kiên) của triều
Tiền Tần đã bị quân Đông Tấn đánh bại trong trận
Phì Thủy cho nên khi Pháp Hiển ra đi thì Trường An đã
sang tay người chủ mới là Diêu Hưng của triều Hậu
Tần. Lúc sắp đụng trận với quân Đông Tấn, với
chủ ý củng cố mạn sườn phía Tây, Phù Kiên đã gửi
tướng của mình là Lữ Quang sang Tây Vực. Quân Lữ Quang
bèn tấn công Qui Tư (Kucha tức Khố Xa, nay thuộc Khu tự
trị của người Ouguir ở Tân Cương) và chiến thắng.
Sau khi nghe tin chủ quân của mình thất trận ở bến Phì
Thủy, ông bèn nghĩ rằng mình không còn cách nào khác
hơn là tự lập làm vua. Huống chi Qui Tư là một ốc
đảo trù phú.Vì Tần Phù Kiên đã đại bại nên bộ
hạ không ai phản đối việc Lữ Quang lên ngôi.
Ở lại đây
là hung, đi về miền Đông là kiết.
Đó là câu nói
của một danh tăng hàng đầu đương thời, Cưu Ma La Thập
(Kumârajiiva, Kumaratra, 344?, 350? – 413). Người cha Cưu Ma La
Thập 鳩摩羅什là một nhà quí tộc Ấn Độ, còn
mẹ ông là em gái của quốc vương Qui Tư. Từ thuở nhỏ,
ông đã nổi danh thần đồng, kiến thức kiêm bị vì
từng theo học về Đại Thừa lẫn Tiểu Thừa ở Kashmir
và Kashgar. Khi Phù Kiên gửi Lữ Quang sang đánh Qui Tư,
đã ra lệnh đặc biệt là bằng mọi cách phải bắt cho
được Cưu Ma La Thập mang về. Lý do là trong giới Phật
giáo ngày ấy, ai nấy đều biết con người ấy là
một thiên tài.
Riêng Cưu Ma La Thập
thì trong lòng cũng có ý nguyện truyền bá Phật giáo
ở phương Đông. Lúc ấy, Trung Quốc đang ở giữa thời
loạn lạc nên người người đều muốn tìm ở nơi Phật
giáo một giải pháp cứu tế. Thế nhưng hình ảnh trung
thực của Phật giáo vẫn chưa được rao truyền. Phải
chăng ngoài mình không có ai để làm việc đó! Chắc
Cưu Ma La Thập đã cảm thấy mình mang một sứ mạng
như vậy.
Việc Lữ Quang
chiếm đóng Qui Tư như mở ra một khả năng truyền giáo
về phương Đông cho Cưu Ma La Thập. Nếu Lữ Quang đưa
ông về miền Đông thì con đường ấy mới có thể
mở ra. Nhưng đây, Lữ Quang vẫn ngồi lì ở Qui Tư cho
nên Cưu Ma La Thập mới đem chuyện bói toán kiết hung
để khuyên Lữ Quang trở về Đông.
Lữ Quang bèn về
Đông, đưa cả Cưu Ma La Thập cùng theo và lên ngôi ở
vùng Vũ Uy. Ông đã lập lên ở đây một triều đại
mới, đó là nhà Hậu Lương, một trong Ngũ Hồ Thập
Lục Quốc. Khi Pháp Hiển đi về phía Hà Tây tứ quận
để sang Tây Vực thì quốc gia này đã thành lập được
15 năm rồi. Tránh cảnh nội chiến, Pháp Hiển đã không
đi ngang qua Vũ Uy. Nếu ông dừng chân ở Vũ Uy thì chắc
ông không cần phải sang Thiên Trúc nữa, bởi vì những
nghi vấn về Phật pháp của ông có thể đã được
học giả thiên tài Cưu Ma La Thập giải đáp tại chỗ.
Trong những kinh văn mà họ Cưu đã mang đi từ Qui Tư, cũng
đã có đủ sách vở về giới luật. Thực vậy, Cưu
Ma La Thập là người dịch các kinh văn nói về giới
luật như Phạm Võng Kinh và Phật Tạng Kinh.
Chuyện Cưu Ma La
Thập được chủ nhân mới của thành Trường An là Diêu
Hưng tiếp đón sẽ xảy ra hai năm sau. Nói cách khác, nếu
Pháp Hiển trì hoãn ngày lên đường độ hai năm thì
ông có sác xuất hủy bỏ kế hoạch đi Thiên Trúc rồi
cũng không chừng.
Bích
nhãn Hồ tăng bên cạnh đồng đạo phương Đông
(Bích
họa ở Thiên Phật Động)
Thế nhưng khi đánh
giá Pháp Hiển, người ta không chỉ nói về những gì
ông mang về được mà còn về lòng quả cảm của ông
vì đó là một điều rất có ý nghĩa. Mọi người
đều xúc động trước hình ảnh một vị lão tăng bình
thường, chân thực nhưng đã làm nên một sự nghiệp
phi thường mà trước ông, không ai làm nổi.
Dù sao cũng còn
một nghi vấn. Có phải thực là khi lên đường sang Tây
Vực, Pháp Hiển đã không biết về sự tồn tại của
danh tăng Cưu Ma La Thập ở Vũ Uy. Lúc ấy Cưu Ma La Thập
hẳn trẻ nhưng tiếng tăm đã phải vang dậy trong giới
nghiên cứu kinh Phật rồi chứ!. Hoặc giả mạng lưới
thông tin hồi đó chưa được tốt hay chăng?
Đây chỉ là sự
phỏng đoán cá nhân của tôi thôi nhưng tôi nghĩ có thể
Lữ Quang nhà Hậu Lương và con trai của ông về sau đều
có ý giữ Cưu Ma La Thập như bảo vật, không cho phép
ai được gặp. Tấn Thư cho biết Cưu Ma La Thập biết
bói việc kiết hung. Một người như vậy đối với
nhà nước thật là một nhân vật quí giá, có thể
tham dự chính sự, phải luôn luôn giữ bên cạnh triều
đình.
Trước đây, Phù
Kiên của Tiền Tần đã động viên 10 vạn quân, hạ căn
cứ địa của Đông Tấn là thành Tương Dương, thu được
danh tăng Đạo An và nho sĩ Tập Tạc Xĩ. Phù Kiên đã
nói với tể tướng: "Ta huy động những 10 vạn binh để
hạ thành Tương Dương mà chỉ thu về được có một
người rưỡi. Một người ám chỉ Đạo An và phân nửa
người là Tập Tạc Xĩ. Phù Kiên không nói như vậy
để than mình thua lỗ nhưng chỉ muốn cho rằng một danh
tăng còn có giá trị gấp đôi nhà nho nổi tiếng.
Người từng khuyên
Phù Kiên nếu chiếm Qui Tư thì phải đem bằng được
Cưu Ma La Thập về chính là Đạo An. Ta thấy Đạo An đã
thừa nhận Cưu Ma La Thập còn có giá trị cao hơn mình.
Do đó Phù Kiên mới dặn dò tướng Lữ Quang khi vào
Tây Vực phải bắt cho được Cưu Ma La Thập. Thật dễ
hiểu, hai cha con Lữ Quang cũng thế, họ đời nào để
vuột ra ngoài một của quí như họ Cưu.
Còn bản thân Cưu
Ma La Thập thì suốt trong 17 năm tròi từ đó cho đến
khi được mời về Trường An, bề ngoài không thấy
ông có một hoạt động tôn giáo nào cả.
Chắc Cưu Ma La Thập
nghĩ rằng muốn truyền bá chính xác Phật pháp cho người
phương Đông, điều thiết yếu là phải dịch thật đúng
đắn các bộ kinh quan trọng. Do đó ông đã bỏ nhiều
thời giờ trong 17 năm trời ấy để học và nắm rõ
văn phạm chũ Hán cũng như đọc đủ loại tác phẩm cổ
điển của họ.
Tây Vực không
phải chỉ là Turkestan (vùng đất chịu ảnh hưởng văn
hóa Thổ hay Đột Khuyết) nhưng một thời đã là Iranistan
(vùng đất chịu ảnh hưởng văn hóa Ba Tư). Ngôn ngữ
Qui Tư cũng thuộc hệ Ấn Âu. Do đó tiếng mẹ đẻ của
Cưu Ma La Thập hoàn toàn là một ngôn ngữ khác với
tiếng nói của người Hán. Khi Lữ Quang chiếm được
Qui Tư thì Cưu Ma La Thập đã 35 tuổi (có thuyết cho là
41). Có thể với ý định truyền giáo sang miền Đông,
ông có học một ít tiếng Hán rồi cũng nên. Thế nhưng
nếu là học tập một cách qui củ thì chỉ có thể
là từ lúc ông đến Vũ Uy. Phải chăng trong thời gian
ở ẩn chờ thời này, người đời hầu như đã quên
mất sự có mặt của ông. Mười mấy năm trời im tiếng
đã khiến cho ông trở thành một nhân vật huyền thoại.
Khác với Cưu Ma La Thập, nhiệt tâm cầu đạo của Pháp
Hiển thì bộc lộ rõ ràng hơn nên nơi Pháp Hiển, ta
không thấy có tính huyền thoại đó.
Tuy việc đi thỉnh
kinh từ đất Hán qua Tây Vực để đến Thiên Trúc,
hứng chịu bao nhiêu nỗi gian nan, là một hành vi có mục
đích tôn giáo nhưng trường hợp của Cưu Ma La Thập -
kể cả những người như ông đã đi từ Tây sang Đông
để rao truyền Phật pháp, cứu độ chúng sinh - thì
cũng có thể coi như hành vi tương tự việc thỉnh kinh,
nghĩa là có mục đích truy cầu bản chất của đạo
Phật.
Từ ngày Cưu Ma
La Thập được mời đến Trường An cho đến khi ông
mất chỉ vỏn vẹn có 8 năm trời. Thế mà ông đã dịch
được 35 bộ 294 quyển kinh. Thật là một siêu nhân trong
ngành dịch thuật. Chúng ta biết là về sau Huyền Trang
cũng dịch kinh. Cách phiên dịch của Huyền Trang bám sát
câu chữ (trục ngữ) nên chính xác, xem như có tính học
thuật cao. So sánh với Huyền Trang thì cách dịch kinh
của Cưu Ma La Thập là dịch theo ý (ý dịch). Hình như
ông chỉ muốn trình bày ý chính của kinh điển nhưng
chính vì thế mà bản kinh ông dịch dễ đọc hơn và
mọi người mới thấm thía dễ dàng bản ý của Phật
pháp. Có thể xem như đây là một bản dịch có tính
văn chương. Tuy nhiên, việc này chắc đến từ lý do là
họ Cưu chỉ bắt đầu học tiếng Hán khi đã ở lứa
tuổi trung niên.
Thí dụ Kinh Pháp
Hoa (Myôhô Rengekyô) vốn rất quen thuộc với Nhật ngày
nay có xuất xứ là bản dịch sang Hán văn của Cưu Ma
La Thập, một người đến từ Tây Vực. Đó là một
bản dịch nổi tiếng được các Phật tử Nhật Bản
yêu chuộng. Ta còn có thể bảo rằng nhờ có bản dịch
ấy mà giữa Tây Vực và người Nhật, đã có một
sợi giây ràng buộc bí ẩn.
Hai
con đường truyền giáo Nam Bắc
Có thể tôi đã
dành quá nhiều giấy mực để nói về những nhà
sư thỉnh kinh. Thế nhưng, ngày nay khi nhắc đến Con Đường
Lụa xuyên qua Tây Vực, người ta toàn đề cập đến
lợi ích thương mãi của nó. Do đó tôi cảm thấy cần
nhấn mạnh ở đây là con đường ấy không phải được
làm ra để phục vụ cho mục đích ấy thôi đâu! Vì vậy,
xin độc giả cho phép tôi được nói thêm đôi điều
nữa liên quan đến các nhà sư thỉnh kinh (cầu pháp tăng).
Chúng ta không nên
quên rằng trước thời Cưu Ma La Thập khoảng 100 năm, có
một nhà sư Tây Vực tên là Phật Đồ Trừng仏図澄
(Buddhasimha, 232-348) . Sách Tấn Thư cho biết ông là người
Thiên Trúc, vốn họ Bạch. Bạch帛 (là lụa) hay Bạch 白
(là trắng) vốn rất phổ biến ở Qui Tư, cả nhà vua
cũng mang họ ấy. Họ đó phổ thông chẳng khác nào họ
Bùi ở Sơ Lặc (Kashgar) hay họ Uất Trì ở Vu Điến (Khôtan).
Dường như tác giả Tấn Thư xem người Qui Tư chẳng khác
gì người Thiên Trúc, bởi vì cũng trong sách ấy, có
chép Cưu Ma La Thập là một người Thiên Trúc.
Do đó, tuy xuất
thân từ Qui Tư nhưng giữa Phật Đồ Trừng và Cưu Ma
La Thập, phong thái không giống nhau. Trong khi Cưu Ma La Thập
dịch rất nhiều kinh văn, có bản còn được bảo tồn
và tiếp tục làm rung động lòng người hiện đại,
thì chẳng thấy Phật Đồ Trừng dịch lấy quyển nào
và truyền lại chi cả.
Cả hai vị đều
mong mỏi rao truyền Phật pháp về phương Đông. Phật
Đồ Trừng tới Lạc Dương vào năm 310, đó là lúc quân
Hung Nô đang uy hiếp nhà Tấn một cách cực kỳ mạnh
mẽ. Năm sau (311), Lạc Dương rơi vào tay địch, thành phố
bị cháy tiêu, cướp bóc, hãm hiếp và giết chóc xảy
ra không ngớt. Cảnh tượng bày ra giống như địa ngục,
ước chừng có đến 75.000 người chết. Có kẻ bị
quẳng từ trên lầu cao, có kẻ bị đem chôn sống, nghĩa
là chịu đủ thứ hành vi bạo ngược. Việc trộn thịt
người với thịt động vật nấu lên để mở yến
tiệc là chuyện thường như cơm bữa.
Đứng trước
những cảnh tượng thê thảm như vậy, có thể Phật
Đồ Trừng nghĩ rằng có những điều cấp thiết cần
phải làm hơn là dịch kinh. Ông đến trước thủ lãnh
Hung Nô để thuyết phục:
-
Làm những hành
vi bạo ngược như thế là chuyện không nên!
-
Tại sao ngươi cho
là thế?
Xưa nay binh tướng
Hung Nô vẫn tin vào lẽ "mạnh được yếu thua", xem đó
như chuyện thường tình. Khác với chúng ta, những con
người hiện đại, họ không lý giải được nếu làm
chuyện bạo ngược là không nên. Sáng chiều, Phật Đồ
Trừng đã cố gắng can thiệp để cứu thêm được
một hai người đang bị hiểm họa trước mắt. So với
những gì ông làm, công việc dịch thuật của các nhà
sư thỉnh kinh coi bộ khỏe hơn nhiều.
Làm thế nào
để giải thích việc giết người là quấy? Nhất là
đối với bọn tướng lĩnh Hung Nô dã man. Thế nhưng
trước tiên là làm sao cho những người đó hiểu được
lời mình muốn nói.
Chỉ có cách duy
nhất là làm một số phép lạ trước mặt họ. Đó
là những người nếu mắt không thấy thì lòng không
tin. Để được họ tin, phải tạo ra những kỳ tích. Theo
truyện ký nói về ông, Phật Đồ Trừng đã phô bày
một số phép lạ trước mặt họ.
Giỏi việc niệm
thần chú, có thể sai khiến quỷ thần.
Tương truyền,
ông còn cứu một đứa con trai của vua Thạch Hổ nhà
Hậu Triệu, chết rồi mà sống lại được. Có thể
Phật Đồ Trừng chỉ là người tinh thông về y khoa và
khoa học tự nhiên mà thôi. Hình như vào thời đó, các
vị sư tên tuổi đều là kẻ có nhiều kiến thức như
vậy. Họ đã khoác cho cách trị liệu của mình màu
sắc thần thánh để đạt được lòng tin vì đó là
một điều kiện tiên quyết.
Nho gia có tín
điều là không bàn đến chuyện ma quỷ thần thánh (quái
lực loạn thần). Họ không bày trò diễn xuất phép
lạ. Phải chăng vì thế mà họ không tạo ra được cơ
hội để giáo hóa binh lính Hung Nô?
Tương truyền Phật
Đồ Trừng sống đến 117 tuổi. Nếu thế, ông
hội đủ yếu tố để được đời xem là một siêu
nhân. Các vị vua Hung Nô đã nghe theo lời khuyến cáo của
ông mà xây nhiều chùa chiền.
Bản thân Phật
Đồ Trừng không dịch lấy một câu kinh và chẳng để
lại trước tác nào. Thế nhưng tương truyền ông có
đến một vạn đệ tử và danh tăng Đạo An là một
cao đồ trong số đó. Như ta đã biết, việc mời Cưu
Ma La Thập từ Qui Tư cũng phát xuất từ lời tiến
cử của Đạo An với vị vua Tiền Tần là Phù Kiên.
(Trích
Tây Vực Dư Văn (1984) trang 47-72)
Dịch
xong tại Tokyo ngày 25 tháng 12 băm 2017.
NNT
Thư mục
tham khảo:
-
Chin Shun-Shin (Trần
Thuấn Thần), Saiiki Yobun (Tây Vực Dư Văn), Asahi Bunko, Asahi
Shinbunsha xuất bản, Tokyo, 1984.
Hình ảnh Internet.
|