Văn học nhật ký, 
Một nét đặc sắc của 
văn hóa Nhật Bản

Nguyên tác: Donald Keene
 Biên dịch: Nguyễn Nam Trân 

Lời Người Dịch:

Trong cuộc đời cầm bút đầy sinh lực với những chủ đề đa dạng thông qua nhiều ngôn ngữ, Donald Keene có lần bị lôi cuốn và dừng chân khá lâu ở mảng văn học nhật ký Nhật Bản. Thành quả nghiên cứu trong lãnh vực này của ông được ghi lại trong cuốn Travelers of A Hundred Ages: the Japanese as revealed through 1,000 years of diaries (Lữ khách giữa dòng thời gian: Người Nhật nhìn thấy qua 1.000 năm tác phẩm nhật ký) do Diane Pub Co xuất bản vào năm 1989 và Columbia University Press in lại năm 1999. Cùng với nó là tác phẩm song sinh 2 tập nhan đề Hakutai no kakaku: nikki ni miru Nihonjin (Bách đại chi quá khách: người Nhật nhìn từ các tác phẩm nhật ký) bằng tiếng Nhật. Tác phẩm sau đã được đăng tải dài hạn trên Nhật báo Asahi, sau đó in thành sách bởi cùng một cơ quan và có nội dung phong phú hơn tác phẩm trước nhiều. Lý do là ngoài phần chính trình bày giai đoạn Heian-Tokugawa (1.000 năm), nó còn có thêm phần phụ kéo đến 1925 tức là sau cả thời Meiji, với một số trang dày cho một giai đoạn ngắn ngủi chỉ có 70 năm. Để hiểu được trọn vẹn công trình nghiên cứu nhật ký Nhật Bản của Donald Keene cho đến gần đây, thiết tưởng độc giả sành tiếng Anh nên xem thêm hai cuốn:

-Modern Japanese Diaries: The Japanese at Home and Abroad As Revealed Through their Diaries (revised edition) (Columbia University Press, 1999)

-So Lovely A Country Will Never Perish: Diaries of Japanese Writers (Columbia Unversity Press, 2010)  

Bài viết dưới đây chỉ là sự kết hợp bản dịch nguyên văn hai lời nói đầu, một chương dẫn nhập và một lời kết luận trong tác phẩm tiếng Anh The Travelers of A Hundred Ages (ấn bản 1999) cùng với nội dung tóm lược của hai tập tiếng Nhật (là tất cả văn bản người dịch đang có trong tay) dưới một nhan đề đặt tạm, với tham vọng trình bày tại sao mảng văn học nhật ký Nhật Bản lại được nhà nghiên cứu Donald Keene quan tâm một cách đặc biệt và để nhiều công sức đến vậy

Lời Nói Đầu cho ấn bản đầu tiên bằng tiếng Anh năm 1989

Những bài bàn luận về nhật ký Nhật Bản giới thiệu trong quyển sách đầu tiên của tôi đã được viết bằng tiếng Nhật và đăng tải liên tục trên mặt báo Asahi. Nó giống như một pho tiểu thuyết nhiều kỳ, đúng hơn là một trải nghiệm gây bối rối khi tôi – người nghiên cứu - bắt buộc phải viết cho xong năm bài trong vòng một tuần mà không có cơ hội chờ đến khi một tư liệu cần bổ túc lọt vào tay mình hay đến khi lý giải về một đoạn văn khó hiểu được kiểm chứng, như điều người ta vẫn làm. Thế nhưng bằng cách này hay cách khác, tôi đã cố giữ được nhịp điệu đó. Sau khi loạt bài nói trên in thành sách, nó có vinh dự được tặng hai giải thưởng văn chương của Nhật Bản. Quyển sách nói trên bàn về những cuốn nhật ký ra đời từ giữa thế kỷ thứ 10 cho đến giữa thế kỷ 19. Từ dạo đó, tôi lại viết tiếp bằng tiếng Nhật và xuất bản một cuốn khác bao gồm các tập nhật ký mới ra trước năm 1925.

Khi soạn quyển sách tiếng Anh, tôi đã ghi nhớ trong đầu và chờ đợi là sẽ có sự chênh lệch về trình độ kiến thức văn học và lịch sử Nhật Bản của những độc giả không phải là người Nhật. Tôi phải giảng giải thêm ở những đoạn mà tôi nghĩ người đó sẽ gặp khó khăn và tôi không do dự lập đi lập lại những lời giải thích về các thuật ngữ Nhật Bản xuất hiện trong sách. Tôi cũng ghép thêm một bảng tra chữ. Mặt khác, ở đây tôi đã lược bớt một số nhật ký có bàn tới trong phiên bản viết bằng Nhật ngữ bởi vì tôi nghĩ chưa chắc chúng có ích cho độc giả bên ngoài nước Nhật.

Cuốn sách viết bằng tiếng Anh này không đòi hỏi một kiến thức đặc biệt nào về Nhật Bản. Dù vậy, trong phần chú thích, tôi thường dẫn nguồn từ sách Nhật và nói đến những vấn đề có thể được các nhà chuyên môn quan tâm. Những mẫu văn dịch nếu không để đích danh dịch giả đều là do chính tôi tự dịch.

Donald Keene
Lời Nói Đầu cho ấn bản tiếng Anh năm 1999

Để đặt tựa đề cho tập bút ký Bách đại chi quá khách ("Lữ khách giữa dòng thời gian") nói về văn học nhật ký mà người Nhật viết ra từ thế kỷ thứ 10 cho đến thế kỷ thứ 19, tôi đã mượn câu mở đầu tác phẩm danh tiếng Oku no hosomichi (Đường mòn miền Bắc) của Bashô: "Ngày tháng muôn đời vẫn là khách qua đường: năm cũ qua năm mới đến, số phận của chúng có khác gì cái thân lữ khách". Bashô đã lấy cảm hứng từ một bài tựa của thi hào Trung Hoa là Lý Bạch. Câu này không đơn thuần là một ẩn dụ và cũng không thể bị cáo buộc là sao chép bởi vì Bashô chỉ có mục đích tìm một câu chữ thích hợp để gói trọn hình ảnh cuộc du hành của mình và ông đã khám phá ra nó nơi bậc tiền bối vĩ đại. Sự lưu chuyển của dòng thời gian: năm năm, tháng tháng, ngày ngày... đã đóng khung được không những cho nhật ký lữ hành này (của Bashô) mà cho mọi thứ nhật ký vì như chúng ta đã biết trong tiếng Anh, "diary" vốn có gốc La-tinh "dies" hay "ngày". Một nhật ký có thể viết nhiều năm sau những sự kiện được nói đến và người viết không còn nhớ chính xác chúng đã xãy ra vào lúc nào. Dù vậy, tác giả cũng có thể là người thường xuyên giữ thói quen ghi chép việc từng ngày theo trình tự thời gian.

Nhiều cuốn nhật ký, trong đó có nhật ký của các nữ quan cung đình thế kỷ thứ 10 và 11, không thấy có sự xê dịch bởi vì các tác phẩm ấy được viết ra bởi những phụ nữ hiếm khi có dịp bước ra khỏi căn buồng họ sống. Tuy vậy, điều đó không đúng nếu áp dụng cho các nhật ký lữ hành. Trong nhật ký của Bashô, chúng ta thấy ông nói rất nhiều đến sự việc và ấn tượng từ những chuyến đi. Điều này giải thích tại sao câu nói của Lý Bạch đáng để mở đầu cho Oku no hosomichi. Bashô có khác nào trăng, mặt trời hay năm tháng, tất cả đều chuyển động không ngừng trong không gian và thời gian.

Oku no hosomichi (Đường mòn miền Bắc) cũng như tất cả những cuốn nhật ký được nói đến trong quyển sách này, đều có bao gồm các yếu tố hư cấu. Điều đó thật khó lòng tránh khỏi khi người viết nhật ký lại là kẻ có khiếu văn chương: ông ta hay bà ta có thể nhìn thấy những triển khai đầy hứng thú của sự việc, mà tiếc thay, chúng không có trong thực tế. Một loại hư cấu khác thường được người viết nhật ký sử dụng – cho dù nhật ký đó được viết ra vào một khoảng thời gian dài sau khi các sự kiện xảy ra - là việc ông ta hay bà ta nói mình không biết điều gì sẽ xảy ra về sau. Một câu nói kiểu "Lúc đó, tôi nào có hay rằng ba năm sau..." có thể làm bật mí tính cách giả tạo của nhật ký đó. Có lẽ điểm nổi bật nhất giúp ta phân biệt được nhật ký (văn học) với tự truyện là như sau: với nhật ký, mỗi ngày ta thêm một ngạc nhiên vì có những điều mới mẻ xãy đến, trong khi tự truyện chỉ là thái độ nhìn lùi về những tháng năm trong quá khứ mà nay đã nhạt nhòa. Chúng cần đến sự bổ sung của một trí óc phán đoán hay tài văn chương cao cấp hơn mà người viết chỉ đạt được ở một giai đoạn sau trong cuộc đời.

Ở đây, tôi làm một chọn lựa là lồng vào trong quyển sách những tập nhật ký mà - đối với tôi – đã ghi lại được ấn tượng tươi mới nhất về các tác giả cũng như thời đại của họ. Tất cả những tập nhật ký này – dù bị không gian và thời gian ngăn cách với chúng ta – vẫn còn được mọi người tìm đọc, bằng chứng cho thấy chúng thực sự là những lữ khách xuyên thời gian.
 

Donald Keene (New York City, September 1998)
Chương Dẫn Nhập cho ấn bản tiếng Anh năm 1999
Nhật ký của người Nhật

Địa vị nhật ký trong văn học

Ở mọi quốc gia trên thế giới, đâu đâu người ta cũng viết nhật ký. Một số nhật ký chỉ ghi lại sự biến đổi thời tiết hay những cuộc gặp gỡ hàng ngày của người viết và phải nói là chúng chẳng có chút giá trị văn chương nào. Chuyện đó cũng từng xãy ra trên một nghìn năm ở Nhật. Ở những nước khác, một số nhật ký vẫn còn được tìm đọc vì soi sáng được thời đại mà những tác giả của chúng sống hoặc nhân cách của chính họ. Thế nhưng theo chỗ tôi biết thì chỉ có ở Nhật, nhật ký mới đóng vai trò của một loại hình văn học so sánh được với tiểu thuyết, nghị luận, tùy bút cũng như các hình thức văn nghệ khác vốn được xem là có giá trị cao hơn nó.

Câu hỏi đầu tiên liên quan đến nhật ký là tại sao người ta phải bỏ công viết ra? Nhà nghiên cứu khi bàn về nhật ký thường chia chúng làm hai loại. Trước tiên là loại nhật ký mà tác giả viết ra để dùng cho riêng mình và loại thứ hai là cho người khác đọc. Trên thực tế thì đại đa số nhật ký được viết ra với niềm hy vọng hay mong mỏi - có thể đến từ vô thức – là một ngày nào đó, người khác sẽ đọc nó. Chẳng hạn, những cuốn nhật ký với lối diễn tả văn hoa tinh tế của thời Heian平安 (794-1185) nhất định không chỉ có đối tượng là chính người viết ra nó đâu, cho dù (vào thời ấy), các tác giả không thể nào tưởng tượng rằng nhật ký mình viết sẽ in ra và được vô số độc giả chiếu cố. Một số người viết nhật ký (diarists) còn đi đến chỗ cực đoan là viết bằng phù hiệu (coding) (hay, như trường hợp Ishikawa Takuboku石川啄木, viết bằng mẫu âm La Tinh). Một số khác để lại di chúc là hãy đốt hết nhật ký sau khi họ chết. Một người viết nhật ký lại đi thiêu hũy nhật ký của mình như thế thật là trường hợp hiếm hoi. Thế nhưng, dù cẩn thận đặt ra những cách thức để giữ được sự bí mật của nhật ký, trong lòng họ vẫn nhen nhúm một ước ao là sẽ có một người nào đó len lỏi được vào bên trong sự bí mật ấy.

Muốn có thái độ thỏa đáng hơn có lẽ nên phân biệt giữa những nhật ký có mục tiêu văn học (literary diaries) và nhật ký chuyên ghi chép các biến cố trong đời một người (non literary diaries, personal records’ diaries). Nhật ký có mục tiêu văn học đọc hấp dẫn hơn nhưng không phải lúc nào chúng cũng trung thực. Người mẹ của đại thần Michitsuna 道綱の母đã soạn cuốn Kagerô Nikki蜻蛉日記 "Nhật ký Phận Cánh Chuồn" hay "Những năm tháng vật vờ") có thể đã cầm bút chỉ vì muốn cho các thế hệ mai sau đọc được và đồng cảm với tâm trạng của bà. Do đó, nhiều lúc, trong tác phẩm, bà đã bỏ qua những chi tiết không có lợi cho mình. Có nhiều nhà viết nhật ký lại thêm thắt vào đấy những điều không xãy ra trong thực tế. Họ đã dùng trí tưởng tượng của mình để thêu dệt để những chi tiết chẳng có giá trị gì trở thành văn vẻ. Mặt khác, loại nhật ký phi văn học chẳng gây được sự chú ý gì đối với các thế hệ mai sau bởi vì chúng quá đi sâu và chi tiết khi nói đến những biến đổi của thời tiết cũng như sự giao tế của những người viết nhật ký mà giờ đây không còn ai biết tới. Thế nhưng cái thiếu vắng nghệ sĩ tính của các tập nhật ký này lại được bù lại bằng một ưu điểm, đó là sự trung thực, và khi nó đề cập đến những con người mà ngày nay chúng ta vẫn còn ngưỡng mộ thì ta thấy nó đã cung cấp một tư liệu có tính cá nhân gây được xúc động, khó lòng tìm thấy nơi nào khác.

Hư và thực

Năm 1943, khi cuốn "Nhật ký tùy tùng Bashô trên đường về miền Bắc của Sora" (Sora Oku no Hosomichi Zuikô Nikki) 曽良奥の細道随行記được in ra lần đầu tiên, nhiều người đã chưng hửng. Cuốn nhật ký này là do Kawai Sora河合曽良, người bạn đồng hành của Bashô trên chuyến đi về miền Bắc năm 1689, ghi chép. Nó đã làm cho những nhà nghiên cứu xưa nay vẫn ngưỡng mộ Bashô như ông thánh của thơ Haiku – tức là một người không thể nào nói dối, đặt điều - phải thất vọng khi khám khá ra rằng có một sự không trùng hợp giữa Bashô và Sora khi nói về cùng một cuộc hành trình. Bashô đã phải mất 5 năm để viết xong Đường Mòn Miền Bắc (Oku no Hosomichi). Ngược lại, rõ ràng là cuốn nhật ký của Sora hoàn toàn vắng bóng một sự thao tác về các dữ kiện và cũng không hề tự khoác cho mình màu sắc văn chương cho nên chúng ta có thể tin những gì ông ấy viết ra mới là sự thực.

Chẳng hạn lúc hai thầy trò đến Nikkô日光 (Nhật Quang), Bashô đã tỏ ra xúc động vì địa danh chốn ấy (có nghĩa là "ánh sáng mặt trời") và sự kết hợp giữa cái tên ấy với các Shôgun Tokugawa, những người vốn có lăng mộ ở đây, nên đã có một vần thơ Haiku:
 

Ara tô to 
Aoba wakaba no 
Hi no hikari
Ôi cảm động làm sao
Từ lá xanh lá nõn
Đều tắm ánh chiêu dương

Tuy thế, Sora đã chép trong nhật ký rằng ngày họ đặt chân đến Nikkô, trời đổ mưa. Như thế Bashô đã vứt bỏ cái sự thật đơn thuần (literal truth) và thay vào đó một sự thực giàu chất thơ (poetic truth). Một lần khác, Bashô mô tả sự trầm trồ của ông khi đứng trước những vật trang trí trong ngôi đền Konjikidô金色堂 (Kim Sắc Đường) của ngôi chùa Chuusonji (TrungTôn Tự) 中尊寺. Thế mà Sora chỉ ghi lại một cách đơn thuần rằng vì không kiếm được một ai để mở cửa vào đền, hai thầy trò đã phải ra về và chưa hề thấy được những tác phẩm điêu khắc nổi tiếng nằm bên trong.

Đứng trước những sự bất nhất như thế này hay thế khác, các nhà nghiên cứu vào thời điểm 1943 đã tin chắc rằng Bashô không thể nào viết nhầm, họa chăng Sora mới là người nói dối hoặc đã quên khuấy mấy chi tiết đó. Phải đợi đến nhiều năm về sau, hầu hết những nhà nghiên cứu mới khẳng định rằng giá trị văn chương của Đường Mòn Miền Bắc đã được tăng lên nhờ những cách mô tả (hư cấu) như vậy bởi vì nó không coi sự ghi chép trung thực những sự kiện là quan trọng mà chỉ chú ý đến hiệu quả văn chương của tác phẩm nhật ký.

Không còn chi để nghi ngờ nữa, chủ đích của Bashô khi viết Đường Mòn Miền Bắc cũng như 4 nhật ký du hành khác về những vùng miền của đất Nhật là bộc lộ tính cách văn chương. Trong tác phẩm Oi no Kobumi 笈の小文 (Tráp đeo lưng cũ / Những bài thơ cũ), ông cho biết nội dung và mục đích của một cuốn nhật ký du hành (du ký) phải như thế nào:

"Kể từ thời của Ki no Tsurayuki (868? – 945 ?), Kamo no Chômei (1155?-1216) và ni sư Abutsu ( ? - 1283), những kẻ đã biết đem ngòi bút để miêu tả trọn vẹn xúc cảm của mình, chưa thấy ai khác tìm ra được điều gì mới mẻ. Tất cả hầu như chỉ biết mô phỏng các vị ấy. Huống chi một kẻ tài sơ trí thiển như tôi, hỏi làm sao có thể đạt được tầm cỡ của họ. Dĩ nhiên, ai cũng có thể đưa vào trong nhật ký của mình những câu kiểu như :" Hôm đó trời mưa...xế chiều thì tạnh. Nơi đó có một cây tùng ...con sông này sông nọ chảy ngang qua vùng" thế nhưng trừ phi đó là một phong cảnh gây ấn tượng, chúng ta không cần phải nhắc đến làm gì. Hơn nữa, có nhiều cảnh vật ám ảnh mãi tâm trí tôi, ngay cả những trải nghiệm không lấy gì làm vui ở một túp lều trong núi hay giữa cánh đồng cũng có thể trở thành đề tài để bàn luận hay chất liệu cho một vần thơ. Khi những điều đó đến trong đầu, tôi đã viết, không theo một thứ tự nào, những giây phút khó quên trong chuyến lữ hành rồi gom góp tất cả lại thành một công trình. Hãy để cho độc giả nghe tôi nói nhưng họ không cần phải bận lòng, cứ xem đó như lời một anh say rượu đang lè nhè hay một người ngủ mớ".

Bashô đã nhận ra rằng văn nhân Nhật Bản đã có một truyền thống lâu dài trong lãnh vực nhật ký lữ hành, bắt đầu với Nhật ký Tosa (Tosa Nikki) 土佐日記của Ki no Tsurayuki紀貫之. Bản thân ông đã góp mặt trong truyền thống này nhưng đồng thời đã nhận ra rằng mình khó lòng đạt tới trình độ của các bậc tiền bối vĩ đại. Nhật ký của họ không chỉ mô tả những cảnh tượng trên đường mà còn trình bày được những cảm xúc sâu lắng của người viết bằng một thứ ngôn ngữ đẹp tuyệt vời. Những nhật ký đến sau đều không tạo được một cái gì độc đáo.

Bashô khiêm tốn khi nói rằng mình "tài sơ trí thiển" và không thể nào đạt đến những thành quả của các bậc tiền bối nhưng ông đã quyết tâm không đóng khung nhật ký của mình trong khuôn khổ những cách diễn tả như "Hôm đó trời mưa ...nhưng đến xế trưa thì tạnh". Ai cũng đủ sức để viết một nhật ký kiểu đó nhưng theo ông, nếu không có một bút pháp độc đáo như Hoàng Sơn Cốc 黄山谷hay một thi pháp thanh tân như Tô ĐôngPha 蘇東坡(Hoàng kỳ Tô tân) của Trung Quốc thì chớ viết làm gì.

Ông tổ của "tiểu thuyết tự thú"

Dù Bashô có dùng lối diễn tả khuôn sáo "tài sơ trí thiển" khi nói về mình nhưng thực ra ông rất tự tin về tài làm thơ, một điều đã được chứng tỏ trong các phẩm khác. Chắc chắn ông cũng ý thức rằng những nhật ký du hành ông viết ra sẽ rất được yêu chuộng bởi chư đệ tử cũng như độc giả. Thế nhưng mục đích cá nhân khi viết nhật ký của Bashô thì vẫn giống như hầu hết người viết nhật ký khác, dù là để làm văn hay không: giữ cho những trải nghiệm của cuộc sống không rơi vào quên lãng. Ngay cả những chuyện khó chịu bất ngờ xãy đến trong quán trọ dọc đường cũng trở thành tư liệu, miễn là ông giữ được nó nguyên vẹn trong ký ức để sau đó đặt bút viết ra. Nhật ký từng được xem như là nguồn tư liệu sống mà các nhà văn của nhiều quốc gia khác nhau sẽ dùng vào việc sáng tác các tác phẩm văn chương. Cuốn sổ tay của một nhà thơ hay một tập vở bình thường đều được coi là điểm khởi hành như vậy.

Dường như Bashô đã lên đường du lịch để tìm nguồn cảm hứng tươi mới cho thơ của mình. Ông không ra đi để nhìn lại các phong cảnh từng gợi nguồn thi hứng cho những nhà thơ trong quá khứ nhưng còn để kiếm thêm cho mình trải nghiệm cuộc sống trên tuyến đường và trong những ngôi nhà trọ. Phải nói ông đã thành công vượt bậc. Không thấy tác phẩm văn chương nào ở Nhật được biết đến nhiều hơn là "Đường mòn miền Bắc". Dù vậy, Bashô vẫn tuyên bố ông không hề có ý định xem nó như tác phẩm văn chương. Trong đoạn văn của "Tráp đeo lưng cũ" mà tôi vừa trích dịch, ông đã chép lại hồi ức của mình không theo một trật tự định sẵn nào cả và yêu cầu độc giả khi đọc nó, hãy xem như đó là lời một người say lè nhè hay một anh ngủ mớ. Thế nhưng câu nói trên cũng là bằng chứng cho thấy ông đang mong đợi mọi người đọc nhật ký của mình. Hoàn toàn không có chuyện nhật ký đã được viết ra để ông có thể lưu giữ lại những kỷ niệm khó quên.

Nhật ký của Bashô còn bộc lộ sự khám phá bản ngã (self discovery) của ông. Trong đó chúng ta thường bắt gặp tình yêu của ông đối với những cuộc lữ hành vốn đã xuất hiện suốt dòng văn học sử Nhật Bản từ buổi ban đầu đến tận ngày nay, nhưng ngoài ra còn là ước vọng thông qua những chuyến đi tìm được cội nguồn của nghệ thuật cho mình cũng như ý nghĩa của cuộc đời trong cương vị một con người và một nhà thơ. Bài Haiku ông viết khi vượt qua cửa quan Shirakawa 白川の関để vào xứ Oku đã gợi cho ta thấy sự hứng khởi khi sắp sửa tiếp xúc được với nguồn cội của sự sáng tạo văn chương:
 

Fuuryuu no
Hajime ya Oku no 
Taue uta
Lần đầu tiên được nghe
Hò cấy lúa xứ Oku
Gợi biết bao thi hứng

Trong những tập nhật ký khác, Bashô cho chúng ta biết một cách bộc trực vì sao cá nhân ông trở thành nhà thơ sau khi đã định theo một số nghề nghiệp khác, cũng như về những gì được ông xem là mục tiêu tối thượng của thi ca. Loại thông tin như thế ít khi được thấy trong những tập nhật ký viết ra ở một nước khác. Thế nhưng ở một quốc gia như Nhật Bản, ngay từ những thí dụ đầu tiên, ta đã thấy rằng nhật ký của họ có khuynh hướng trở thành một tập tự truyện hay bài phê bình. Các tác giả của chúng, ví dụ người viết "Những năm tháng vật vờ" (Kagerô Nikki) đã chấp bút hầu hết các đoạn trong đó rất lâu sau khi sự kiện xãy ra, cho phép mình có thời gian gạn lọc những gì không quan trọng vốn lấp đầy một cuốn nhật ký thông thường. Trong trường hợp đó, nhật ký trở thành công cụ để khám phá bản ngã (self exploration), ngay cả tự thú (confession) nữa. Nhật ký kiểu đó là thủy tổ một loại hình tiêu biểu của văn học hiện đại Nhật Bản: "tiểu thuyết nói về cái tôi"(hay tiểu thuyết ngôi thứ nhất: I novel).

Một đặc trưng Nhật Bản

Vài năm về trước, chỉ trong vòng một tuần, tôi đã tham dự hai cuộc bảo vệ luận án Tiến sĩ ở Đại học Columbia. Luận văn đầu tiên liên quan đến văn học Nhật Bản, là một bản dịch trích đoạn và nghiên cứu về "Truyện của Nezame" (hay Nửa đêm thức giấc, Yowa no Nezame) 夜半の寝覚và luận văn thứ hai bàn về vài cuốn tiểu thuyết Trung Hoa thời Minh. Sự khác nhau giữa hai đối tượng nghiên cứu không thể nào rõ rệt hơn. "Truyện của Nezame"rất ít hành động, nội dung hầu như chỉ là những ý nghĩ diễn ra trong đầu của nhân vật chính là nàng Nezame. Trong khi đó, bối cảnh của những cuốn tiểu thuyết Trung Hoa là ở bên ngoài và chỉ trình bày những tấn bi kịch với chi tiết rất kích động nhưng không một lần nào thể hiện qua ý nghĩ của nhân vật. Mọi cuốn đều như thế cả, không có ngoại lệ. Kể từ thời Heian, các tác phẩm tiểu thuyết tiêu biểu của Nhật Bản thường có tính nội quán (instrospection). Nếu cường điệu một chút khi phân biệt chúng, ta có thể nói tiểu thuyết Nhật Bản có khuynh hướng tự truyện (autobiographical) trong khi tiểu thuyết Trung Quốc có tính truyện ký nhân vật (biographical). Cho đến thế ký thứ 17, người Trung Hoa không viết tự truyện, thế nhưng ở bên Nhật thì hai thể loại nhật ký và tự truyện đã hòa quyện vào nhau từ trong các tập nhật ký của các nữ quan cung đình thời Heian. Tác phẩm văn học Nhật Bản thường có tính cách cá nhân rất mạnh. Nói một cách khác (tuy thiếu nghiêm chỉnh nhưng tiện lợi) thì chúng quá giàu cảm xúc ( = nhiều nữ tính). Tính cách ấy được thấy rõ ràng nhất trong những tác phẩm cỡ "Những năm tháng vật vờ" (Kagerô Nikki). Tác giả của nó (tức Bà mẹ của đại thần Michitsuna) tỏ ra quá đổi bận rộn với những cảm xúc bản thân nên không thể đặt mình vào vị trí của những nhân vật khác hay nhìn thế giới chung quanh một cách khách quan. Thế nhưng vì bà ta viết lên những tình cảm con người – một điều có lẽ đã không thay đổi từ bao thế kỷ - nên văn chương của bà có tính phổ quát và thấm thía vào lòng người hơn bất cứ cuốn tiểu thuyết Trung Quốc nào mà tôi được biết.

Nhà văn Nhật Bản thời xưa vay mượn Trung Quốc rất nhiều. Chỉ khi nào không thấy họ vay mượn, ta mới phải ngạc nhiên. Những nhà phê bình Nhật Bản thời hậu chiến thường than phiền về việc thi ca Nhật Bản họa hoằn mới có bài nói lên ý thức xã hội, một nét tiêu biểu thấy nơi những áng thơ hay của Trung Quốc. Điều này không có nghĩa là người Nhật đã thử làm và thất bại nhưng bởi vì ở Trung Quốc và ở Nhật Bản, thi ca vốn có mục đích khác nhau. Ở Trung Quốc, hầu như các tác phẩm văn chương thường được in ra trong lúc tác giả còn sinh tiền hay chẳng bao lâu sau khi họ mất, nhưng cho dù người Nhật đã biết đến nghề in từ khá lâu, họ vẫn chần chừ cho đến thế kỷ thứ 17 mới bắt đầu in những tác phẩm văn chương. Đối với họ, văn chương phải được thưởng thức một cách hoa mỹ cùng với kiểu chữ viết tay (thư pháp), loại giấy và loại mực dùng để viết ra. Văn chương có khuynh hướng riêng tư hoặc chỉ được san sẻ giữa một nhúm người chứ không phải là cái nhắm vào bàng dân thiên hạ. Ta có thể lấy làm tiếc cho sự hạn chế như thế của văn học Nhật Bản truyền thống nhưng không nên quên rằng cũng nhờ đó mà nhà văn nhà thơ Nhật Bản thời xưa đã đạt được sự thuần túy trong văn phong. Ngay cả khi một bài thơ Nhật vay mượn hình ảnh nào đó của Hán thi, nó cũng chỉ khéo léo trích những gì phù hợp với lối diễn tả Nhật Bản chứ ít khi muốn đi theo hẳn người Trung Quốc để mà tổng quát hóa một kinh nghiệm đơn lẻ. Cái cung cách trực giác, đầy "nữ tính" của những nhà nhật ký (diarists) khi thở than về bao tình cảm chua cay ngọt bùi của họ đối với những cuộc tình sắp đến hay đã trôi đi vào quá khứ sau đó đã được bắt chước bởi các nhà văn hay nhà thơ giàu "nam tính" nhất.

Cấu trúc và thời gian

Sự chọn lựa những lối biểu hiện đa nghĩa và có tính trực giác trong thi ca Nhật Bản - hơn là dùng các lối diễn tả mạnh mẽ sắc cạnh như thi ca Trung Quốc - có chăng chỉ vì các điều kiện liên quan đến khả năng diễn đạt của tiếng Nhật. Thế nhưng người ta có thể tự hỏi tại sao người Nhật lại được chuẩn bị sẵn sàng cho việc viết nhật ký như vậy? Ta có thể tưởng tượng điều đó qua trường hợp của Bà con gái ông Takasue (Fujiwara no Takasue no musume)孝標の娘, tác giả cuốn "Nhật ký Sarashina" 更科日記hay "Khi qua cầu mộng" (Sarashina Nikki, 1020-1058?). Cuốn nhật ký này quả là phương tiện duy nhất để một người như bà thổ lộ nỗi lòng. Dường như bà ăn nói vụng về, ngại giao tiếp với người chung quanh, sẵn sàng tin tưởng vào văn chương hơn tin tưởng vào cuộc đời. Có lần gặp gỡ một người đàn ông mình yêu thích, bà không biết cách nào để bày tỏ tình cảm. Sự vụng về đó đã khiến bà có khuynh hướng sử dụng nhật ký như phương tiện diễn đạt nhưng có lẽ đó không phải là tất cả lý do khiến bà lựa chọn hình thức ấy. Các tác gia Nhật Bản thường khổ tâm vì vấn đề cấu trúc của hình thức văn chương. Trường hợp thể loại Tanka 短歌với 31 âm tiết hay Haiku俳句 với 17 âm tiết thì chúng quá ngắn nên vấn đề cấu trúc không đặt nặng cho lắm. Thế nhưng khi nói tới một thể thơ dài như Chôka 長歌thì con số thi nhân biết hợp nhất sự cô đọng của thi ca và cấu trúc dài của thể thơ một cách hoàn hảo thật là hiếm hoi. Renga 連歌được coi là một thể thơ có cấu trúc tiêu biểu của thi ca Nhật Bản. Khi viết Renga, người ta không hề có ý định tạo cho được một cấu trúc đơn độc và thuần nhất. Ngược lại, các nhà thơ bỏ nhiều công phu để làm sao cho mỗi bộ phận liên kết có thể ăn khớp một cách an toàn với bộ phận đi trước và bộ phận tiếp theo.Những bài thơ thấy trong các đại tuyển tập như Shin Kokin Wakashuu 新古今和歌集 (1205) được các nhà phê bình cho là đã đạt đến sự hòa hợp của một tổng thể duy nhất vì giữa những bài thơ tiếp nối đã có sự sắp xếp khéo léo của bàn tay người biên tập. Thế nhưng không có ai cho rằng yếu tố cấu trúc này là nguyên nhân dẫn đến thành công của Shin Kokin Wakashuu như điều đã xãy đến cho các danh tác Tây phương như The Divine Comedy hay Paradise Lost.

Nhật ký dù sao cũng phải dựa theo một cấu trúc có sẵn tức là ngày tiếp theo ngày. Tuần tự của ngày tháng là một cái gì bền vững khiến cho ta không cần đến một cấu trúc nào khác. Nói khác đi, việc thời gian trôi qua tự nó là một chủ đề không những cho nhiều tập nhật ký mà còn cho văn học Nhật Bản nói chung. Khuôn mặt đẹp đẽ ngày nào nay đầy những vết nhăn, cung điện đồ sộ giờ đã đổ nát điêu tàn, người yêu xưa tha thiết bao nhiêu trở thành hờ hững. Việc viết nhật ký để giữ lấy thời gian, không cho ký ức trôi vào quên lãng có lẽ là một điều không có ý nghĩa nào nếu nhìn theo quan điểm của một sử gia. Trong đoạn cuối của "Đi tìm thời gian đã mất" (A la recherche du temps perdu), Proust đã khám phá ra rằng "có những mẩu vụn của cuộc sống có thể được cứu vớt ra khỏi cái hố thẳm của thời gian". Những nữ quan cung đình thời Heian đã làm được điều đó. Họ cũng nhận thấy rằng cách duy nhất để thưởng thức được một ấn tượng mà tác giả mong muốn sẽ còn mãi còn hoài là, phải làm như lời Proust dặn dò: "thử tìm cách hiểu về nó một cách trọn vẹn ngay trong môi thể mà nó hiện hữu, nghĩa là bên trong bản thân ta, và thử làm sao cho nó trở thành trong suốt để thấy được tận đến nơi sâu thẳm nhất". Đó là mối liên hệ cơ bản đã gút chặt được văn học Nhật Bản, kể từ các nhà nhật ký buổi đầu cho đến các tiểu thuyết gia hiện đại.

Trong khi tuyển chọn các nhật ký để đề xuất, trước tiên tôi kiếm những tác phẩm có thể truyền đạt cho mình một cái gì đó dù nhìn chung thì tác phẩm ấy không có ý nghĩa văn học nào to lớn hay dù nó là một tác phẩm không mấy tiếng tăm và không nằm trong bảng liệt kê của các nhà nghiên cứu văn học Nhật Bản. Tôi sẽ không do dự đặt nó vào tầm ngắm nếu tôi nghĩ rằng trong nhật ký này có một vài chi tiết hào hứng. Quí độc giả có thể ngạc nhiên khi tôi đề xuất một số tác phẩm không hội đủ tiêu chuẩn như tác phẩm nhật ký đúng theo định nghĩa. Tuy rằng ý nghĩa của từ nikki 日記 (nhật ký) là "ghi chép việc từng ngày", tôi thấy rất ít nhật ký do người Nhật viết và ra đời trước thế kỷ 18 thỏa mãn được đòi hỏi đó (nghĩa là ghi chép mỗi ngày). Hầu hết những tác phẩm cổ điển Nhật Bản mang tên "nhật ký" sẽ không đáng được gọi là "nhật ký" khi đem đặt trong một môi trường khác. Đôi khi nó chỉ có nghĩa là nơi ghi chép một số sự kiện có thật khi đem so sánh với những đoạn văn có tính hư cấu phát xuất từ trí tưởng tượng của người kể chuyện (cho dù yếu tố hư cấu không phải hoàn toàn vắng bóng trong nhật ký). Những đoạn văn xuôi trong các thi tập nhiều khi cũng được gọi là nikki nếu nó trình bày một cách chi tiết về hoàn cảnh và ngày giờ bài thơ ấy được sáng tác, cho dù dùng chữ "nhật ký" trong trường hợp này có hơi trái tai. Đòi hỏi mà tôi đưa ra là chúng ta hãy đặt vào phạm trù "nhật ký" cả những tác phẩm rõ ràng là không phù hợp định nghĩa thông thường của thể loại nhật ký nhưng có thể cung cấp một chi tiết thú vị về người viết ra nó hay về những người Nhật đáng nhớ hoặc không dễ dàng gì kiếm ra ở đâu khác. Lời bào chữa này của tôi hơi kém tính thuyết phục khi đánh đồng những thiên tự truyện自伝 (autobiography) hay tác phẩm miêu tả cuộc sống cung đình với thể loại nhật ký (nikki) nhưng tôi không làm gì khác hơn là dùng cái danh xưng mà người Nhật đã sử dụng từ nghìn năm về trước. Sự đồng cảm đặc biệt mà người Nhật có với những hồi ức cá nhân (mà họ thường gọi là nhật ký) có thể dùng để giải thích tính cách chủ quan bàng bạc trong văn học Nhật Bản từ xưa đến nay.

Khi đã có một sự thích thú đặc biệt với một nhật ký nào đó, ta có thể hiểu rõ thêm về những nhật ký khác. Khi đọc nhiều nhật ký liên tiếp, chúng ta có thể phân biệt được cái gì là thành thực (truly personal), cái gì là khuôn sáo (convention) qua phản ứng của cá nhân trước một khung cảnh thiên nhiên hay một nỗi khổ. Ý kiến mà người viết nhật ký bày tỏ nếu độc đáo sẽ khiến cho tác phẩm của ông (bà) ta gây được sự chú ý. Chẳng hạn tác giả vô danh của cuốn Kaidôki 海道記 (Journey Along the Seacoast Road) từng làm tôi sửng sốt với câu nói: "Những địa điểm mà mình thường nghe nói tới chưa chắc đáng để đi xem". Rõ ràng là những nhà du hành khác khi ra đi đều có mục đích tìm xem những cảnh vật đã được nhắc đến trong văn thơ và thỏa mãn với trải nghiệm của mình, cho dù cảnh đẹp ngày xưa giờ đây đã hóa ra tiêu điều. Nhưng trong trường hợp của người lữ khách này, ông là người biết ngắm phong cảnh bằng chính đôi mắt của mình chứ không mượn con mắt của các bậc tiền bối.

Có những nhật ký khác được người ta nhắc nhỡ là nhờ hoàn cảnh đặc biệt lúc nó được viết ta. Fujikawa no Ki 藤川の記 (Account of Fujikawa, 1473) đã được soạn bởi Ichijô Kaneyoshi一条兼良, một công khanh quyền cao chức trọng nhất thời ấy, trong thời gian ông đi lánh nạn vì binh đao đang tàn phá kinh đô. Phủ đệ huy hoàng nơi tổ tiên và ông từng cư ngụ đã làm mồi cho ngọn lửa và dù là một đại thần đứng đầu triều, ông đã phải hạ mình xuống để xin miếng cơm và chỗ trọ qua đêm. Cũng vậy Nhật ký Gen’yo 玄与  日記 (Gen’yo Nikki) tuy là một tác phẩm thứ yếu, đã vẽ lên được hình ảnh độc đáo của nhà thơ lớn nhất đương thời trong thời gian ông sống cảnh lưu đày.

Nhật ký còn mô tả những khía cạnh của cuộc sống của người Nhật mà những thể loại văn chương khác không đề cập tới. Chẳng hạn, ta thường thấy trong tiểu thuyết và tuồng kịch có những nhân vật từ bỏ cái thế giới ta bà mà họ gọi là "ngôi nhà đang cháy" (hỏa trạch) để nương thân nơi cửa Phật. Thế nhưng ít khi thấy người ta viết về tình cảnh gia đình mà một người đã bỏ lại sau lưng khi anh ta lánh mình ở một ngôi chùa trên núi và cắt tóc đi tu. Tônomine Shôshô Monogatari 多武峰少将物語 (The tale of the Tônomine Captain) là một tập nhật ký (dù từ monogatari có nghĩa là truyện kể, NNT) nói về quyết định đi tu của một viên chỉ huy ngự lâm quân đã gây ra hậu quả thế nào đối với vợ ông, còn Shunjôbô Nikki 俊乗房日記 (The Diary of the Priest Shunjô) cho thấy lũ con mà nhà sư để lại đã chịu ảnh hưởng như thế nào về hành vi của ông. Cả hai đều là những tác phẩm hết sức cảm động.

Tôi xin phép lồng vào đây một số nhật ký khác chỉ vì mối liên hệ gần gũi của nó đối với những sự kiện quan trọng trong lịch sử Nhật Bản. Chẳng hạn cuộc xâm lăng Triều Tiên vào cuối thế kỷ 16 đã được kể lại một cách vụng về trong nhật ký của đám lính tráng tham dự chiến dịch. Những tác phẩm này dù hoàn toàn không có giá trị nghệ thuật, đã đem đến cho ta những hình ảnh của một cuộc chiến đấu man rợ. Nó vẫn còn hằn sâu trong tâm khảm vì người ta không thể tìm ra điều này này ở một nơi nào khác. Một nhóm nhật ký cuối cùng có mặt trong quyển sách này đề cập đến khoảng thời gian quan trọng nhất của lịch sử Nhật Bản cận đại nghĩa là lúc Nhật Bản mở cửa cho các quốc gia phương Tây. Dĩ nhiên có rất nhiều tài liệu trình bày tình huống trong giai đoạn này theo cách nhìn của cả hai phía (Nhật Bản và Âu Mỹ) nhưng chúng ta bắt buộc phải tìm kiếm thật lâu mới bắt gặp một vài chi tiết có thể làm cảm động lòng người như giây phút anh chàng thủy thủ Mỹ chụp bức ảnh đầu tiên của một người Nhật. Cũng vậy, câu chuyện một nhà chức trách Nhật Bản muốn làm thân với những anh người Nga mà anh ta đang thương thuyết có thể làm chúng ta buồn cười. Anh này được cho biết là muốn cho người ngoại quốc tin cậy thì phải nói chuyện vợ con với họ. Do đó anh ta mới ca tụng nhan sắc của vợ mình với những người đó, cho dù anh ghi lại trong nhật ký là vợ mình sẽ rất ngạc nhiên khi biết chuyện. Cuối cùng còn có một chi tiết đáng yêu thấy trong nhật ký của viên chức ấy là sau bao lần nhắc đến người Nga như một bọn "man di" theo lối suy nghĩ truyền thống, anh đã phải thay đổi tư duy; bởi vì được tin là có lần người Nga đã cứu vớt đồng bào anh khỏi thảm họa sóng cuốn. Kể từ đó, anh không gọi họ là "bọn man di Nga" mà thay vào bằng "những người Nga".

Tôi cũng cho vào danh sách chọn lọc này một ít nhật ký không viết bằng Nhật ngữ nhưng viết bằng Hán văn, một thứ văn tự cổ điển đóng cùng vai trò đối với người Nhật như tiếng La Tinh đối với người Âu Châu. Những nhật ký viết bằng Hán văn đi sát với định nghĩa về nhật ký hơn cả những "nhật ký" viết bằng tiếng Nhật và cho thấy đã được ghi chép mỗi ngày. Nhìn chung, những nhật ký viết bằng Hán văn này có khuynh hướng phi cá nhân (impersonal) như không phải giống nhau đồng loạt như thế. Meigetsuki明月記 (Minh Nguyệt Ký, Chronicle of the Bright Moon) nhất quyết là đã đưa ra cho chúng ta một hình ảnh sống động về Fujiwara Teika藤原定家, tác giả của nhật ký đó và thế giới chung quanh ông. Tập nhật ký đồ sộ Chuuyuuki 中右記 (Trung Hữu Ký) được nhiều người biết đến như một trong những nhật ký hoàn chỉnh nhất là do một vị đại thần viết bằng Hán văn. Trong đó, tác giả đã tuyên bố rằng mục đích của nhật ký này không có gì riêng tư mà chỉ nói đến những sự kiện ở cửa công nhằm giúp cho con cháu đời sau biết rõ về tổ tiên hơn người ngoài. Dù vậy, ngay ở đây cũng có nhiều đoạn rất thú vị vì người viết không chỉ mô tả những gì ông quan sát mà còn nói về những điều ông cảm được trong lòng. Khi trình bày về cái chết của Thiên hoàng Horikawa 堀河天皇 (1079-1107), ông đã cho chúng ta thấy hình ảnh gây xúc động về vị quân chủ ấy mà những sử quan chính thức của triều đình không tài nào viết được.

Như mọi người, tôi cũng tin chắc rằng những cuốn nhật ký du hành của Bashô 芭蕉là đỉnh cao trong văn học nhật ký Nhật Bản. Chúng không thể hiểu theo định nghĩa thông thường về nhật ký. Những mốc ngày tháng ghi trong đó đôi khi khó làm cho chúng ta tin tưởng và chúng ta biết rằng Bashô đã bỏ ra rất nhiều năm để chỉnh đốn tác phẩm. Có lẽ ông đã đưa thêm một số yếu tố hư cấu vào đấy thế nhưng có một sự thực mà chúng ta không thể chối cải được là những nhật ký du hành đó không những giúp cho ta biết rất nhiều về bản thân Bashô mà còn cho ta thấy tại sao dân tộc Nhật Bản lúc nào cũng thích du lịch. Bởi vì tình yêu dành cho những chuyến đi cũng là tình yêu đối với thiên nhiên, một yếu tố không thể thiếu được trong văn học và nghệ thuật nước này.

* * *

Nhật ký của những người lính

Lần đầu tiên tôi biết được việc người Nhật say mê nhật ký như thế nào là vào giữa Thế Chiến thứ II, khi mà phận sự chính của tôi trong nhiều tháng trời là dịch những cuốn nhật ký địch bỏ lại trên chiến trường. Nhiều cuốn còn vấy máu và chắc chắn là người ta đã tìm thấy nó từ tử thi của một người lính Nhật nào đó. Có những cuốn nhật ký hãy còn đẫm ướt nước biển. Tôi đọc những cuốn này không phải là có thể tìm thấy trong đó chút ít hứng thú văn chương nhưng bởi vì đôi khi chúng cung cấp được một số thông tin quân sự có giá trị tình báo. Một người viết nhật ký có thể nhắc dến một chiếc tàu chìm, những hậu quả về tổn thất gây ra bởi các cuộc oanh tạc của không quân Mỹ, hay những điều tương tự. Nhưng cũng có khi qua lời thở than trách móc của anh ta mà ta có thể thấy những điềm chẳng lành báo trước viễn tượng của cuộc chiến và cho thấy tinh thần của quân đội Nhật Bản lúc đó xuống thấp như thế nào. Tuy giá trị quân sự của các nhật ký ấy không đáng bao nhiêu nhưng một khi chứa đựng một thông tin dù nhỏ đến đâu về quân đội Nhật, chúng đều được cất giữ cẩn thận.

Nhiều cuốn từ đầu đến cuối chẳng thấy có gì thú vị, chẳng hạn nhật ký của những quân nhân gương mẩu, trong đó người viết cất công ghi chép một cách chính xác những việc xãy ra từng giờ từng ngày ví dụ "6 giờ sáng: thức dậy, 6 giờ 15: rửa mặt..." và cứ tiếp tục cùng một kiểu. Những cuốn khác thì có khá hơn một chút, nhái lại như con két những khẩu hiệu nhà nước ban bố hay tường thuật đơn vị này đã "anh dũng bước xuống tàu" hay đơn vị kia có "tinh thần chiến đấu cao"... Một số nhật ký không sao đọc được vì chữ quá xấu hay nét bút chì đã nhạt nhòa. Dù sao, một đôi khi, vì đã làm quen với chữ viết lem luốc của họ, tôi cũng có thể đoán chừng họ định viết cái gì và trong hoàn cảnh như thế nào.


Keene trong quân đội thời Thế Chiến thứ II

Rõ ràng là nếu các người lính đó có chút ít khiếu văn chương thì nội dung nhật ký của họ có thể hấp dẫn hơn. Thế nhưng, nếu trong phần đầu, khi viết ở một nơi an toàn, nó hãy còn có một ít văn vẻ nhưng một khi nhân vật ấy đã bước lên con tàu để xuống miền Nam Thái Bình Dương và trong lòng đang nơm nớp sợ tiềm thủy đỉnh của Mỹ tấn công, hay nghe tin đơn vị mình bị phái ra tiền tuyến, hoặc giả anh ta đang nằm liệt vì chứng sốt rét hay một thứ bệnh nhiệt đới nào đó thì nhật ký của anh – dù viết với giọng văn thế nào đi nữa – khi đọc lên cũng thấy hết sức thương tâm. Trong trường hợp này, những câu chữ bình dị xem ra còn có hiệu quả hơn văn chương bóng bẩy. Chẳng hạn một tiếng than "Tôi đau quá!" làm chúng ta cảm động hơn là những nụ cười để khỏa lấp nó. Hoàn cảnh bao chung quanh anh khi anh viết nó sẽ khiến cho tập vở ghi chép ấy được người ta nhớ mãi. Một nỗi sợ hãi bất chợt đến với anh khi chứng kiến tận mắt chiếc tàu bên cạnh trong cùng hạm đội vừa bị ngư lôi đánh chìm có thể được truyền đạt đầy đủ đến chúng ta cho dù đương sự chỉ là một quân nhân hầu như thất học. Tôi còn nhớ một thiên thuật sự về cái Tết của bảy anh lính Nhật. Họ là những kẻ sống sót của đơn vị trên một hòn đảo ở Nam Thái Bình Dương. Tất cả những gì họ có trong tay là 13 hạt đậu và đã chia sẻ cho nhau để cùng đón năm mới.

Tôi không thể nào nén được lòng thương cảm đối với binh lính Nhật Bản khi đọc những cuốn nhật ký mà họ đã bỏ lại ở Guadacanal, Tarawa, Peleliu cũng như tất cả các hòn đảo khác nơi những trận đánh trong Thế Chiến thứ II diễn ra. Dẫu là những cuốn nhật ký không có mảy may tin tức quân sự, tôi cũng đọc tất. Tác giả của những tập nhật ký đó là những người Nhật đầu tiên tôi biết một cách cặn kẽ cho dù tôi chưa từng gặp họ bao giờ và thực vậy, tôi sẽ không còn cơ hội gặp nữa vì khi tôi đang đọc những điều họ nghĩ thì họ đã chết rồi.

Không những thế, nhật ký còn đem lại sự thích thú cho tôi vì một lý do khác. Nhân viên trong quân lực Hoa Kỳ không được phép viết nhật ký bởi người ta sợ những cuốn nhật ký này có thể rơi vào tay địch. Người Mỹ không quan ngại vì sự cấm đoán đó, một số vẫn giữ nhật ký riêng. Ngược lại, trong quân đội Nhật, dù các cấp chỉ huy cũng lo lắng nhật ký của binh lính nếu vào tay địch có thể bị đối phương lợi dụng nhưng họ vẫn không ngăn cấm binh lính hay thủy thủ giữ nhật ký. Kỳ lạ hơn nữa là các thành viên trong quận đội Nhật được cấp cho những cuốn vở chép nhật ký như quà Tết và còn nhận được lệnh phải viết một cách đều đặn, cùng một kiểu như ngày nay trong trường học Nhật Bản, học sinh được thầy cô dặn phải ghi chép trong nhật ký những gì xảy ra cho các em vào các vụ hè. Cũng có thể là các sĩ quan Nhật Bản thường xuyên đọc nhật ký của binh lính để canh chừng xem "tinh thần chiến đấu" của bộ hạ có tốt hay không. Hoặc giả họ cho việc giữ một cuốn nhật ký như vậy là phù hợp với truyền thống xưa nay của người Nhật. Nếu cấm cản việc đó, biết đâu sẽ đưa đến một kết quả ngược lại. Dù lý do là gì đi nữa, người ta vẫn nhận ra rằng quân đội Nhật Bản đã để lại rất nhiều nhật ký.

Một số nhật ký của lính Nhật lại chêm thêm vài câu tiếng Anh như lời nhắn nhủ với người lính Mỹ nào có thể khám phá nó khi kẻ viết nhật ký đã chết. Họ nhắn người tìm ra nhật ký hãy gửi về gia đình của họ một khi chiến tranh kết thúc. Tôi đã để những quyển nhật ký như vậy qua một bên và định bụng trả lại cho gia đình họ khi có cơ hội. Điều này không đúng luật bởi vì tất cả những tư liệu bắt được trên chiến trường đều phải đem về trình Washington nhưng tôi đã chấp nhận mọi rủi ro khi hành động như vậy. Tuy nhiên, trong thời gian tôi đổi đến Okinawa, một người nào đó đã lục soát mớ hành lý của tôi còn để lại Hawaii và tịch thu tất cả những cuốn nhật ký đó. Giờ đây, tôi không hiểu chúng đã lưu lạc về đâu! Thế nhưng tôi tin rằng, những cuốn nhật ký đó ngày nay (1989) chắc không còn giá trị tình cảm như cái thời hơn 40 năm về trước.

Trong thời chiến, tôi hãy còn có một kinh nghiệm nữa đối với nhật ký Nhật Bản nhưng với tư thế hoàn toàn khác biệt. Trước khi lên tàu để tới một hòn đảo trong chùm đảo Aleutian (lãnh thổ Mỹ phía bắc Thái Bình Dương, NNT), tôi có mua ở một hiệu sách ở bang California bản dịch sang Anh văn Tuyển tập nhật ký của những nữ quan triều Heian. Lạ lùng thay, đây là quyển sách mà tôi đọc vài hôm trước khi trận tấn công Attu (vào ngày 7/6/1942 bởi quân đội Nhật, NNT) bắt đầu.Tôi không hiểu tại sao lại chọn một quyển sách như vậy để đọc trước khi khởi đầu cuộc đời chiến binh của mình. Giữa cái xấu xa của cuộc chiến và cái thanh nhã của cuộc sống cung đình thời Heian vào thế kỷ thứ 11 mà các bà mô tả, thật không có một điểm chung nào cả. Có lẽ tôi đã nghĩ rằng nếu đọc quyển sách ấy, tôi sẽ suy gẫm và biết đích xác hơn về những điều mà người Nhật thực sự yêu chuộng hơn là những gì tôi biết qua nhật ký của binh lính hay là hình ảnh bị đánh cụm (generalization) về nhân cách của người Nhật mô tả trong sách báo do người Mỹ viết vào thời đó. Đó là một sự chọn lựa khác thường nhưng không phải là chọn lựa sai lầm. Xuyên qua các tập nhật ký này là một dòng chảy chứa đựng những cách biểu hiện mà ta thấy suốt trong văn học Nhật Bản. Có lẽ nhật ký giúp ta có nhiều thông tin để hiểu về suy nghĩ và cảm xúc của người Nhật hơn là bất cứ loại hình văn học nào của họ. Trên bốn mươi năm sau (1945-1989) tôi vẫn còn quay lại với những tập nhật ký, dù là của các tác giả vô danh hay những bậc đại sư tên tuổi, để có được một cái nhìn thật gần gũi với con người Nhật Bản qua nhiều thế hệ

Tóm lược nội dung Hakutai no Kakaku
Liệt kê các tập nhật ký trong tầm ngắm của Donald Keene

Hakutai no Kaku百代の過客 (Bách đại chi quá khách) tuy là 2 tập sách khổ bỏ túi nhưng với trên 1.200 trang giấy, khó thể đi ngay vào chi tiết. Trong khi chờ đợi, xin phép chỉ liệt kê tên sách và tên tác giả những cuốn nhật ký mà Donald Keene đã tuyển lựa để khai triển trong công trình của mình. Việc nghiên cứu đặc tính của từng thời đại hay trình bày nội dung của từng tác phẩm nhật ký xin được phép trở lại trong một dịp khác (NNT).

Nội dung Tập I (Chính biên)

Thời Heian (781-1184):

1-Nittô Guuhô Junrei Gyôki 入唐求法巡礼行記 (Ghi chép về chuyến hành hương cầu đạo bên nhà Đường). Tác giả: Tăng Ennin 円仁(Viên Nhân, 793-864). Thời điểm: 838-847. Đặc tính: Nhật ký hành hương cầu đạo viết bằng Hán văn.

2-Tosa Nikki 土佐日記 (Nhật ký chuyến hồi kinh từ Tosa). Tác giả: Ki no Tsurayuki 紀貫之(870?-945?). Thời điểm: 934-935. Đặc tính: Du ký một đường quan viết bằng chữ Kana.

3-Kagerô Nikki 蜻蛉日記 (Những năm tháng vật vờ / Phận mỏng cánh chuồn). Tác giả: Bà mẹ của Michitsuna道綱の母.Thời điểm: 954-974. Đặc tính: Nhật ký bộc lộ những yêu ghét và bất bình trong đời sống vợ chồng.

4-Mido Kanpaku ki 御堂関白記 (Nhật ký của đại thần Quan bạch Fujiwara no Michinaga). Tác giả: Fujiwara no Michinaga 藤原道長(966-1027). Thời điểm: 998-1021. Đặc tính: Dạng viết bằng thủ bút (jihitsu自筆) của một quyền thần.

5-Izumi Shikibu Nikki 和泉式部日記 (Nhật ký nữ quan Izumi Shikibu). Tác giả: Izumi Shikibu和泉式部 (năm sinh năm mất không rõ). Thời điểm : Cuối thế kỷ thứ 10 đầu 11. Đặc tính: Nhật ký ái tình, có chen 140 bài Waka.

6-Murasaki Shikibu Nikki 紫式部日記 (Nhật ký nữ quan Murasaki Shikibu). Tác giả: Bà Murasaki Shikibu 紫式部 (năm sinh năm mất không rõ). Thời điểm Cuối thế kỷ thứ 10 đầu 11. Đặc tính: Tác giả cũng là người viết Truyện Genji.

7-Sarashina Nikki 更科日記 (Nhật ký ở Sarashina). Tác giả: "Bà con gái ông Sugawara no Takasue"孝標の娘. Thời điểm: khoảng 1020-1058. Đặc tính: Thế giới mộng mơ của một cô gái sống ở một miền xa kinh đô.

8-Tônomine Shôshô Monogatari 多武峰少将日記 (Truyện thiếu tướng Tônomine). Tên khác: Takamitsu Nikki (Nhật ký Takamitsu: Fujiwara no Takamitsu藤原高光, 939-994). Thời điểm: Không rõ. Đặctính: Ký sự về hoàn cảnh gia đình của một sĩ quan ngự lâm quân xuất gia.

9-Ionushi いほぬし(Am chủ / Đời người đi tu). Tác giả: Tăng Zôki 増基法師. Thời điểm: Thế kỷ thứ 10. Đặc tính: Nhật ký cuộc đời lang thang qua nhiều vùng đất của một nhà ẩn tu.

10-Jôjin Ajari no Haha Shuu成尋阿闍梨母集 (Những bài viết của bà mẹ thày Jôjin). Tác giả: "Mẹ của a-xà-lê Jôjin" 成尋阿闍梨母. Thời điểm: từ 1071. Đặc tính: Tâm sự bà mẹ có con là tăng sĩ đi hành hương bên Trung Quốc, một nơi quá xa xôi và nguy hiểm.

11-Sanuki no Suke Nikki 讃岐典侍日記 (Nhật ký của nữ quan Sanuki no suke). Tác giả: Fujiwara no Nagako藤原長子. Thời điểm: từ 1102. Đặc tính: Ghi chép của một nữ quan hầu cận Thiên hoàng.

12-Chuuyuuki 中右記 (Nhật ký của quan Trung ngự môn Hữu đại thần). Tác giả: Fujiwara no Munetada 藤原宗忠 (1062-1141). Thời điểm: 1087-1138. Đặc tính: Đồ sộ. Chủ đề nghi thức, điển lễ, sự kiện chính trị xã hội.

13-Kashuu to Uta Monogatari 歌集と歌物語 (Truyện về các tập thơ Waka). Không phải là tên sách vì có nhiều tác phẩm khác nhau được D.Keene nhắc tới trong mục này. Tác giả: Nhiều người. Thời điểm: Thế kỷ 12 và 13. Đặc tính: Các tác phẩm bàn về thơ Waka và hội bình thơ (Uta-awase).

Thời Kamakura (1185-1338):

1-Kenreimon-in Ukyô no Daibu shuu 建礼門院右京大夫集 (Tập nhật ký bằng thơ của Bà Ukyô Daibu). Tác giả: Bà Ukyô no Daibu右京大夫, nữ quan theo hầu Kenreimon-in tức cựu hoàng hậu Taira no Tokuko. Thời điểm: từ 1170. Đặc tính: Nhật ký tình ái lãng mạn trong cung cấm.

2-Tamakiwaru たまきはるtức Kenshunmon-in Chuunagon no Musume Nikki 建春門院中納言の娘日記 (Nhật ký của người con gái quan Trung Nạp ngôn theo hầu bà Kenshunmon-in tức cựu hoàng phi Taira no Shigeko). Tác giả: Bà con gái của thi hào chức Trung Nạp Ngôn Fujiwara Shunzei藤原俊成. Thời điểm: từ 1157. Đặc tính: Hồi ức sinh hoạt cung đình.

3-Meigetsu-ki (Minh Nguyệt Ký) 明月記. Tác giả: Fujiwara Teika藤原定家 (1162-1241). Thời điểm: Từ 1180. Đặc tính: Viết bằng Hán văn (Kanbun) và bình luận về thơ Waka.

4-Minamoto no Ienaga Nikki 源家長日記 (Nhật ký của đại thần Minamoto no Ienaga). Tác giả: Minamoto no Ienaga源家長 ( ? – 1234). Thời điểm: 1197-1207. Đặc tính: Điểm danh vài nhân vật đương thời.

5-Takakura-in Itsukushima Gokô-Ki 高倉院厳島御幸記 (Ghi chép về cuộc tuần du của Cựu thiên hoàng Takakura ra đảo Itsukushima). Tác giả: Đại thần Minamoto no Michichika源通親 (1149-1202). Thời điểm: 1180. Đặc tính: Nhật ký tùy tùng ngự du.

6-Takakura-in Shôka Ki 高倉院昇霞記 (Ghi chép về việc Cựu thiên hoàng Takakura thăng hà). Tác giả: Đại thần Minamoto no Michichika 源通親 (1149-1202). Thời điểm: 1181. Đặc tính: Sinh hoạt và biến cố cung đình.

7-Kaidôki 海道記 (Hải Đạo Ký / Ghi chép về chuyến đi trên tuyến đường ven biển từ Kyôto đến Kamakura). Tác giả: Không rõ: Có thuyết là Kamo no Chômei鴨長明. Thời điểm: khoảng 1223. Đặc tính: Nhật ký lữ hành có tính văn chương.

8-Shinshô Hôshi Nikki 信生法師日記 (Nhật ký của pháp sư Shinshô). Tác giả: Nhà tu Shinshô信生, tục danh Utsunomiya Asanari宇都宮朝業.Thời điểm: 1225. Đặc tính: Nhật ký chuyến đi từ Kyôto đến Kamakura.

9-Tôkan Kikô 東関紀行 (Đông Quan Kỷ Hành / Chuyến đi qua cửa quan về miền Đông) Tác giả: Không rõ. Có thể là Kamo no Chômei 鴨長明/ Minamoto no Mitsuyuki 源光行hay Minamoto no Chikayuki源親行. Thời điểm: 1242. Đặc tính: Ký sự chuyến khứ hồi giữa Kyôto và Kamakura.Thể văn pha trộn Hòa Hán.

10-Utataneうたたね (Giấc thiu thiu). Tác giả: Ni sư Abutsu tức Abutsuni 阿仏尼 ( ? – 1283). Thời điểm: khoảng 1240. Đặc tính: Nhật ký hồi tưởng.

11-Izayoi Nikki 十六夜日記 (Nhật kỳ trăng tàn / Tàn nguyệt sao). Tác giả: Ni sư Abutsuni阿仏尼. Thời điểm: 1279. Đặc tính: Nhật ký đi Kamakura khiếu kiện.

12-Asukai Masaari Nikki 飛鳥井雅有日記 (Nhật ký của Asukai Masaari). Tác giả: Asukai Masaari 飛鳥井雅有 (1241-1301). Thời điểm: 1269-1280. Đặc tính: Viết bằng Kana của một kẻ ham chơi.

13-Ben no Naishi Nikki 弁内侍日記 (Nhật ký của chức Nội thị Ben). Tác giả: Bà nội thị Ben / Ben no Naishi. Thời điểm: 1246-1252. Đặc tính: Kể lại sinh hoạt cung đình, với 200 bài thơ Waka.

14-Nakatsukasa no Naishi Nikki 中務内侍日記 (Nhật ký của chức nội thị Nakatsukasa). Tác giả: Bà nội thị Nakatsukasa中務内侍. Thời điểm:1280-1292. Đặc tính: Sinh hoạt cung đình.

15-Towazugatari とわず がたり(Không hỏi cũng thưa / Lời tâm sự của công nương Nijô). Tác giả: Công nương Nijô二条. Thời điểm: từ 1271 -1289. Đặc tính: Đời tình ái cung đình gây sốc.

16-Takemuki ga Ki 竹むきが記 (Ghi chép về điện Takemuki). Tác giả: Nữ quan Hino Nako日野名子. Thời điểm: 1329-1349. Đặc tính: Sinh hoạt cung đình.

Thời Muromachi (1392-1573):

  1. Daijingu Sankeiki 大神宮参詣記 (Cuộc hành hương Đại Thần Cung Ise). Tác giả: Tăng Tsuukai 通海. Thời điểm: 1342. Đặc tính: Ký sự hành hương đền Thần đạo Ise của một tu sĩ Phật giáo.
  2. Miyako no tsuto 都のつと(Những món quà sẽ đem về kinh đô). Tác giả: Tăng Sôkyuu宗久. Thời điểm: 1350. Đặc tính: Ký sự lữ hành từ kinh đô lên miền Đông Bắc.
  3. Ojima no Kuchisusami 小島の口すさみ (Ngâm thơ một mình nghe ở Ojima). Tác giả: Nijô no Yoshimoto 二条良基 (1320-1388). Thời điểm: 1353. Đặc tính: Ký sự cuộc lữ hành bất đắc dĩ giữa thời loạn lạc.
  4. Sumiyoshi Môde 住吉詣 (Cuộc hành hương đền Sumiyoshi). Tác giả: Shôgun Ashikaga Yoshiakira 足利義詮 (1330-1357). Thời điểm: Không rõ. Đặc tính: Văn chương của võ tướng.
  5. Rokuon.in dono Itsukushima Môde no Ki鹿苑院厳島詣記 (Cuộc hành hương đảo Itsukushima của ngài Lộc Uyển Viện (Shôgun Ashikaga Yoshimitsu足利義満, 1358-1408). Tác giả: Đại thần Imagawa Ryôshun 今川了俊 (1326-1414?). Thời điểm: Không rõ. Đặc tính: Ký sự hành hương.
  6. Nagusamegusa なぐさめ草 (Niềm an ủi). Tác giả: Tăng Shôtetsu 正轍 (1381-1459). Thời điểm: 1414. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một thi nhân.
  7. Fuji Kikô 富士紀行 (Chuyến viếng núi Fuji).Tác giả: Asukai Masayo 飛鳥井雅世 (1390-1452), tăng Gyôkô堯孝 (1391-1455) và một văn nhân vô danh. Thời điểm: 1432. Đặc tính: Nhật ký tháp tùng chuyến tuần du của Shôgun Ashikaga Yoshinori足利義教 (1394-1441).
  8. Zenkôji Kikô善光寺紀行 (Chuyến viếng chùa Zenkôji). Tác giả; Tăng Gyô.e堯恵. Thời điểm: 1465. Đặc tính: Ký sự hành hương.
  9. Fujikawa no Ki 藤川の記 (Ghi chép về vùng Fujikawa). Tác giả: Quan nhiếp chính Ichijô Kaneyoshi一条兼良. Thời điểm: 1473. Đặc tính: Ký sự lữ hành.
  10. Kaikoku Zakki 廻国雑記 (Hồi Quốc Tạp Ký / Khi chép vụn vặt khi vòng quanh trong nước). Tác giả: cao tăng Dôkô道興. Thời điểm: 1486-87. Đặc tính: Nhật ký du hành xen lẫn thơ.
  11. Shirakawa Kikô 白川紀行 (Chuyến lữ hành đến cửa ải Shirakawa).Tác giả: Thày dạy Renga (Rengashi) Sôgi 宗祇 (1421-1502).Thời điểm: 1468. Đặc tính: Ký sự lữ hành của một nhà thơ.
  12. Tsukushi Michi no Ki筑紫道記 (Ghi chép trên đường đi Tsukushi / tức Kyuushuu). Tác giả: Sôgi宗祇. Thời điểm: 1480. Đặc tính: Ký sự lữ hành của một nhà thơ.
  13. Sôgi Shuuen no Ki 宗祇終焉記 (Ghi chép về lúc lâm chung của Sôgi). Tác giả: Sôchô 宗長(1448-1532). Thời điểm: 1499. Đặc tính: Ghi chép về cái chết của nhà thơ người cũng là thày mình.
  14. Sôchô Shuki 宗長手記 (Sổ tay của Shôchô). Tác giả: Shôchô 宗長.Thời điểm: 1522-1527. Đặc tính: Nhật ký về một thời chiến loạn.
  15. Utsuyama no Ki 宇津山記 (Ghi chép ở núi Utsuyama). Tác giả: Sôchô宗長. Thời điểm:1517. Đặc tính: Nhật ký xen lẫn tự truyện.
  16. Tôkoku Kikô 東国紀行 (Chuyến đi về miền Đông). Tác giả: Sôboku宗牧 ( ? – 1545). Thời điểm: 1544-1545. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nhà thơ.
  17. Yoshino Môde no Ki 吉野詣記 (Chuyến hành hương vùng Yoshino). Tác giả: Sanjônishi Kin.eda 三条西公条(1482-1563). Thời điểm: 1553. Đặc tính: Ký sự hành hương với bạn văn Satomura Jôha 里村紹巴(1524-1602?)..
  18. Fujimi Michi no Ki 富士見道記 (Chuyến đi ngắm núi Fuji). Tác giả: Satomura Jôha里村紹巴. Thời điểm: 1567. Đặc tính: Ký sự lữ hành với thơ và rượu của một nhà sư.
  19. Gen’yo Nikki 玄与日記 (Nhật ký của Gen.yo). Tác giả: Tăng Gen.yo玄与. Thời điểm: 1596. Đặc tính: Nhật ký tháp tùng xen lẫn hồi tưởng.
  20. Yuusai Tabi Nikki 幽斎旅日記 (Nhật ký du hành của Yuusai). Tác giả: Lãnh chúa Yuusai tức Hosokawa Fujitaka細川藤孝. Thời điểm: Khoảng 1587-1590. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của võ tướng-nhà thơ.
  21. Kyuushuu no Michi no Ki 九州道記 (Ký sự chuyến đi Kyuushuu). Tác giả: Kinoshita Chôshôshi木下長嘯子). Thời điểm: 1592. Đặc tính: Nhật ký tháp tùng Hideyoshi.
  22. Kôrai Nikki 高麗日記 (Ký sự chiến tranh khi đi đánh Triều Tiên). Tác giả: Tajiri Akitane田尻鑑種. Thời điểm: 1592 (xuất quân lần đầu). Đặc tính: Nhật ký phi văn học.
Thời Tokugawa (1603-1867):
  1. Taionki 戴恩記 (Đái ân ký / Kể lại món nợ đối với các ân sư). Tác giả: Nhà thơ Matsunaga Teitoku 松永貞徳 (1571-1653). Thời điểm: 1644-1648. Đặc tính: Hồi tưởng về bước đầu học làm thơ.
  2. Heishin Kikô 丙辰紀行 (Bính Thìn Kỷ Hành / Cuộc du hành năm 1616). Tác giả: Nho gia Hayashi Razan 林羅山 (1583-1657). Thời điểm: 1616. Đặc tính: Nhật ký lữ hành chen lẫn thơ..
  3. Kinsei shoki kyuuteijin no nikki 近世初期宮廷人の日記 (Chùm nhật ký các triều thần đầu thế kỷ 17) gồm Sasamakura 篠枕 (Gối lá trúc con) của Nakanoin Michikatsu 中院通勝 (1556-1610), Nikkozan Kikô 日光山紀行 (Chuyến chơi núi Nikko) của Karasumaru Mitsuhiro 烏丸光弘 (1579-1638) và Kantô Kaidôki 関東海道記 (Dọc theo vùng biển Kantô) của Nakanoin Michimura 中院通村 (1588-1653). Đặc tính chung: Nhật ký lữ hành.
  4. Tôtômi no Kami Masakazu Kikô 遠江守正一紀行 (Nhật ký lữ hành của trấn thủ xứ Tôtômi là Masakazu). Tác giả: Kobori Masakazu小堀正一. Thời điểm: 1608. Đặc tính: Nhật ký lữ hành.
  5. Azuma Meguri 東めぐり(Vòng quanh miền Đông). Tác giả: Vô danh. Thời điểm: Khoảng thế kỷ 17. Đặc tính: Nhật ký lữ hành.
  6. Hinotohitsuji Ryokôki 丁未旅行記 (Đinh Mùi Lữ Hành Ký / Chuyến đi năm 1667). Tác giả: lãnh chúa Ikeda Tsunamasa 池田綱政 (1638-1714). Thời điểm: 1667. Đặc tính: Nhật ký lữ hành từ Okayama lên Edo.
  7. Nozarashi Kikô 野晒し紀行 (Dọc đường mưa gió). Tác giả: Matsuo Bashô 松尾芭蕉 (1644-1694). Thời (d)iểm: 1684. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nhà thơ.
  8. Kashima Môde 鹿島詣 (Hành hương đền Kashima). Tác giả: Matsuo Bashô松尾芭蕉. Thời điểm: 1687. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nhà thơ.
  9. Oi no Kobumi 笈の小文 (Tráp Đeo Lưng Cũ / Những Bài Thơ Cũ). Tác giả: Matsuo Bashô松尾芭蕉. Thời điểm: 1687-88. Đặc tính:Nhật ký lữ hành của một nhà thơ.
  10. Sarashina Kikô 更科紀行 (Du ký vùng Sarashina). Tác giả: Matsuo Bashô松尾芭蕉. Thời điểm: 1688. Đặc tính: Du ký của một nhà thơ.
  11. Oku no Hosomichi 奥の細道 (Đường mòn miền Bắc). Tác giả: Matsuo Bashô松尾芭蕉. Thời điểm: 1689. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nhà thơ.
  12. Saga Nikki 嵯峨日記 (Nhật ký Saga). Tác giả: Matsuo Bashô 松尾芭蕉. Thời điểm: 1691. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nhà thơ.
  13. Seihoku Kikô 西北紀行 (Tây Bắc Kỷ Hành / Chuyến đi về miền Tây Bắc).Tác giả: Kaibara Ekiken貝原益軒 (1630-1714). Thời điểm: 1689. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nho y.
  14. Tôkai Kikô 東海紀行 (Đông Hải Kỷ Hành / Chuyến đi dọc bờ biển Đông). Tác giả: Bà Inoue Tsuujô 井上通女 (1660-1738). Thời điểm: 1681. Đặc tính: Nhật ký lữ hành từ địa phương lên Edo của một tài nữ tinh thông Hòa Hán.
  15. Kika Kikô 貴家日記 (Qui Gia Nhật Ký). Tác giả: Bà Inoue Tsuujô井上日記. Thời điểm: 1689. Đặc tính: Nhật ký từ Edo về quê của tài nữ Inoue Tsuujô.
  16. Kôshi Michi no Ki 庚子道記 (Ghi chép về chuyến đi năm Canh Tý). Tác giả: Bà Takejo 武女 (không rõ là ai). Thời điểm: năm Canh Tý 1720). Đặc tính: Nhật ký lữ hành của người đàn bà vô danh được học giả quốc học Shimizu Hamaomi 清水浜臣 (1776-1824) giới thiệu năm 1807.
  17. Ikaho no Miyukiburi 伊香保の道行きぶり(Chuyến đi chơi suối nước nóng Ikaho tỉnh Gunma). Tác giả: Bà Yuya Shizuko 油谷倭文子(1732-1752). Thời điểm: 1750. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nữ văn nhân yểu mệnh cùng mẹ mình.
  18. Fuuryuu Shisha Ki 風流使者記 (Phong Lưu Sứ Giả Ký). Tác giả: Ogyuu Sorai荻生徂徠 (1666-1728) . Thời điểm: 1706 Đặc tính: Nhật ký lữ hành từ Edo đến vùng Kai của một nho sĩ.
  19. Chô no asobi 蝶之遊 (Nhởn nhơ như cánh bướm). Tác giả: Yamazaki Hôkka 山崎北華 (1700-1750?). Thời điểm: 1738. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một nhà thơ theo dấu Bashô.
  20. Nagasaki Kôeki Nikki 長崎行役記 (Nhật ký công vụ ở Nagasaki). Tác giả: Nagakubo Sekisui長久保赤水. Thời điểm: 1767. Đặc tính: Nhật ký chuyến đi từ Mito xuống Nagasaki.
  21. Kôkan Saiyu Nikki 江漢西遊日記 (Nhật ký về miền Tây của Kôkan).Tác giả: Shiba Kôkan司馬江漢 1747-1818?). Thời điểm: 1788. Đặc tính: Nhật ký chuyến đi Deshima (Nagasaki).
  22. Kaigen Kikô 改元紀行(Cải nguyên kỷ hành / Chuyến đi đánh dấu một niên hiệu mới). Tác giả: Ôta Nanpo太田南畝 (1749-1823). Thời điểm: 1801. Đặc tính: Nhật ký lữ hành.
  23. Bakin Nikki 馬琴日記 (Nhật ký của nhà văn Bakin). Tác giả: Takizawa Bakin滝沢馬琴 (1767-1848). Thời điểm: Khoảng 1834-42. Đặc tính: Nhật ký một văn nhân.
  24. Iseki Takako Nikki 井関隆子日記 (nhật ký của bà Iseki Takako). Tác giả: Iseki Takako 井関隆子 (1785-1845). Thời điểm: 1840-45. Đặc tính: Nhật ký phụ nữ cuối đời Edo với văn phong thời Heian.
  25. Uraga Nikki 浦賀日記 (Nhật ký chuyến đi Uraga). Tác giả: Sakuma Shôzan 佐久間象山 (1811-1864 ). Thời điểm: 1853. Đặc tính: Nhật ký lữ hành của một chí sĩ Duy Tân.
  26. Nagasaki Nikki 長崎日記 (Nhật ký chuyến đi Nagasaki). Tác giả: Kawaji Toshiakira川路聖謨 (1801-1868). Thời điểm: 1852. Đặc tính: Nhật ký công vụ ngoại giao với người Nga.
  27. Shimoda Nikki: 下田日記 (Nhật ký chuyến đi Shimoda). Tác giả: Kawaji Toshiakira川路聖謨. Thời điểm:1854. Đặc tính: Nhật ký công vụ ngoại giao với người Nga.
Thời cận đại (trước và sau cuộc Minh Trị Duy Tân 1868):
  1. Kenbeishi Nikki 遣米使日記 (Nhật ký đi sứ nước Mỹ). Tác giả: Muragaki Norimasa 村垣範政, trấn thủ vùng Awaji 淡路守(1813-1880). Thời điểm: 1859. Đặc tính: Nhật ký của viên phó sứ trong đoàn sứ thần sang Washingon thương thuyết.
  2. Hôshi Meriken Kikô 奉使米利堅紀行 (Ghi chép hành trình đi sứ America). Tác giả: Kimura Yoshitake木村喜毅, trấn thủ vùng Settsu摂津 (1830-1901). Thời điểm: 1860. Đặc tính: Nhật ký của viên phó sứ trong đoàn sứ thần sang San Francisco thương thuyết.
  3. Seikôki 西航紀 (Tây Hàng Ký / Ghi chép việc đi sứ phương Tây). Tác giả: Fukuzawa Yukichi 福沢諭吉 (1835-1901). Thời điểm: 1862. Đặc tính: Nhật ký có cá tính của một thành viên sứ bộ sang Âu châu.
  4. Biyô Ôkô Manroku 尾蠅欧行漫録 ( Ghi chép tản mạn về chuyến theo chân sứ bộ sang Âu châu). Tác giả Ichikawa Wataru市川渡, Thời điểm: 1862. Đặc tính: Nhật ký có tính thực dụng của một thành viên sứ bộ nói trên.
  5. Ôkô Nikki 欧行日記 (Nhật ký chuyến theo sứ bộ sang Âu châu). Tác giả: Fuchibe Tokuzô 淵辺徳蔵. Thời điểm: 1862. Đặc tính: Nhật ký có tính nghệ thuật của một thành viên sứ bộ nói trên.
  6. Futsueikô 仏英行 (Phật Anh hành / Chuyến đi Pháp và Anh). Tác giả: Shibata Takenaka 柴田剛中 (1823-77). Thời điểm: 1865. Đặc tính: Nhật ký chuyến đi xem xét cách xây dựng xưởng chế thép.
  7. Kôsei Nikki 航西日記 (Hàng Tây nhật ký / Chuyến hàng hải thăm phương Tây). Tác giả: Shibusawa Eiichi 渋沢栄一 (1840-1931). Thời điểm: 1867. Đặc tính: Chuyến đi của đoàn Nhật tham dự Hội chợ đấu xảo Paris năm 1867 dưới mắt một chuyên viên tài chánh.
  8. Beiô kairan jikki 米欧回覧実記 (Mễ Âu hồi lãm thực ký / Ghi chép rõ về chuyến thăm Mỹ và Âu châu). Tác giả: Kume Kunitake 久米邦武 (1839-1931). Thời điểm: 1871 Đặc tính: Thuật lại chuyến viếng thăm nổi tiếng của các thành viên chính phủ Meiji tục gọi là Sứ bộ Iwakura.
  9. Kôsei Nichijô 航西日乗 (Hàng Tây nhật thừa / Nhật ký viếng thăm Tây phương). Tác giả: Nhà văn Narushima Ryuuhoku 成島柳北 (1837-84). Thời điểm: 1872. Đặc tính: Nhật ký một chuyến Âu du với mục (d)ích văn hóa.
  10. San’un Kyôu Nikki 桟雲峡雨日記 (Sạn vân giáp vũ nhật ký / Nhật ký viết ở vùng sạn đạo và kẽm núi). Tác giả: Takezoe Shin’ichirô 竹添信一郎 (1842-1917). Thời điểm: 1876. Nhật ký viết bằng Hán văn về chuyến đi Bắc Kinh-Thượng Hải qua ngõ Thành Đô -Trùng Khánh thượng nguồn Dương Tử Giang.
  11. Matsuura Takeshirô Hoppô Nitchi松浦武四郎北方日記 (Ghi chép về miền Bắc của Matsuura Takeshirô). Tác giả: Matsuura Takeshirô松浦武四郎 (1818-88). Thời điểm: 1850. Đặc tính: Địa lý chí viết từ các chuyến đi của tác giả lên vùng Hokkaidô và tìm hiểu người Ainu.
  12. Nantô tangen 南島探験 (Nam Đảo thám nghiệm / Chuyến đi tìm hiểu quần đảo Ryuukyuu ở biển Nam). Tác giả: Sasamori Gisuke笹森儀助 (1845-1915). Thời điểm: 1893. Đặc tính: Nhật ký điều tra về vùng cực Nam vì lý do quốc phòng.
  13. Kôsei Nikki 航西日記 (Hàng Tây Nhật Ký / Nhật ký đi qua phương Tây). Tác giả: Mori Ôgai森鴎外 (1862-1922). Thời điểm: 1884. Đặc tính: Nhật ký chuyến đi Đức bằng tàu biển từ Yokohama.
  14. Dôitsu Nikki 独逸日記 (Độc Dật nhật ký / Nhật ký thời sống ở Đức). Tác giả : Mori Ôgai森鴎外. Thời điểm: 1884-1888. Đặc tính: Nhật ký của một sĩ quan quân y tu nghiệp có dịp khám phá xã hội Đức.
  15. Sôseki Nikki 漱石日記 (Nhật ký Sôseki). Tác giả: Natsume Sôseki 夏目漱石1867-1916). Thời điểm: 1900. Đặc tính: Nhật ký thời du học bên Anh của một nhà giáo-nhà văn nổi tiếng.
  16. Niijima Jô Nikki新島襄日記 (Những cuốn nhật ký của Niijima Jô). Tác giả: Niijima Jô 新島襄 (1843-90). Gồm có Tamashima Hyôgo Kikô 玉島兵庫紀行 (Nhật ký chuyến đi Tamashima ở Kobe), Hakodate Kikô 函館紀行 (Chuyến đi Hakodate). Thời điểm: 1860-70. Đặc tính: Nhật ký những chuyến đi của một nhà giáo dục Cơ Đốc Giáo từng tốt nghiệp một đại học Mỹ.
  17. Kido Takayoshi Nikki 木戸孝允日記 (Nhật ký của Kido Takayoshi). Tác giả: Kido Takayoshi 木戸孝允(1833-77). Thời điểm: khoảng 1871. Đặc tính: Nhật ký của một chính trị gia trong "tam kiệt" thời Duy Tân nói về những khó khăn chính phủ thời ấy phải đối đầu.
  18. Ueki Emori Nikki 植木枝盛日記 (Nhật ký của Ueki Emori). Tác giả: Ueki Emori植木枝盛 (1857-92). Thời điểm: từ 1873. Đặc tính: Nhật ký của một nho sĩ bàn về trải nghiệm văn minh khai hóa vào đầu thời Duy Tân.
  19. Koume Nikki 小梅日記 (Tiểu Mai nhật ký / Nhật ký của Koume). Tác giả: Kawai Koume川合小梅 (1804-89). Thời điểm: 1849-1885. Đặc tính: Nhật ký của một phụ nữ có học sống ở địa phương Wakayama giữa thời văn minh khai hóa.
  20. Ichiyô Nikki 一葉日記( Nhật ký của Ichiyô). Tác giả: Nhà văn nữ Higuchi Ichiyô 樋口一葉 (1872-96). Thời điểm: Từ thập niên 1880. Đặc tính: Nhật ký có tính văn học cao của một nhà văn nữ có cá tính và sớm nổi tiếng.
  21. Mineko Nikki 峰子日記 (Nhật ký của Mineko). Tác giả: Mori Mineko森峰子 (1846-1916). Thời điểm: Khoảng thập niên 1890. Đặc tính: Tác giả là mẹ nhà văn Mori Ôgai.
  22. Tsuda Umeko Nikki 津田梅子日記 (Nhật ký của Tsuda Umeko). Tác giả: Tsuda Umeko津田梅子 (1864-1929). Thời điểm: Từ 1898. Đặc tính: Tác giả là nữ sinh viên du học ngoại quốc đầu tiên của Nhật.
  23. Shimomura Toku Nikki 下村とく日記 (Nhật ký của bà Shimomura Toku). Tác giả: Shimomura Toku 下村とく(1888-1968). Thời điểm: 1912-1968. Đặc tính: Nhật ký của một nữ khán hộ người Mỹ gốc Nhật có thời bị giam giữ trong trại tập trung ở bang Idaho.
  24. Azamu karazu no Ki 欺からずの記 (Nhật ký không dối trá). Tác giả: Kunikida Doppo国木田独歩 (1871-1908). Thời điểm: 1893-1897. Đặc tính: Nhật ký một nhà văn tự phân tích nội tâm.
  25. Shiki Nikki 子規日記 (Nhật ký của Shiki). Tác giả: Masaoka Shiki 正岡子規 (1867-1902). Thời điểm (1900-1902). Đặc tính: Ghi chép 2 năm cuối cùng trong cuộc đời nhà thơ cách tân thời Meiji.
  26. Takuboku Nikki 啄木日記 (Các nhật ký của Takuboku). Gồm Shuraku Tekigo秋韷 笛語 (Tiếng tiêu mùa thu), Shibutami Nikki 渋民日記 (Nhật ký viết ở thôn Shibutami), Romaji Nikki ロマ字日記 (Nhật ký bằng chữ La Mã) .Tác giả: Ishikawa Takuboku (1886-1912)石川啄木. Thời điểm: Từ 1912 . Đặc tính: Tác giả là một nhà thơ Tanka lớn của thời cận đại.
  27. Kansôroku 観想録 (Quán Tưởng Lục / Ghi chép về những điều mình nghĩ ngợi). Tác giả: Arishima Takeo有島武夫 (1878-1923). Thời điểm: Từ 1898. Đặc tính: Một trong những nhật ký nặng chất suy tư của nhà văn chủ nghĩa nhân đạo và là một tâm hồn u uất.
  28. Kôtoku Shusui Nikki 幸徳秋水日記 (Các nhật ký của Kôtoku Shuusui) gồm Jishiroku 時至録 (Chuyện thời cuộc), Tobei Nikki 渡米日記 (Nhật ký sang Mỹ). Tác giả: Kôtoku Shuusui 幸徳秋水1871-1911). Thời điểm: Từ 1899. Đặc tính: Nhật ký của một nhà văn có tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
  29. Roka Nikki 蘆花日記 (Nhật ký của Roka). Tác giả: Tokutomi Roka 徳富蘆花 (1868-1927). Thời điểm: Khoảng 1914. Đặc tính: Nhật ký có tính cá nhân của một nhà văn quan trọng thời Meiji.
  30. Kinoshita Nikki 木下日記 (Các nhật ký của Kinoshita) gồm Hakuun Nikki 白雲日記 (Bạch vân nhật ký), Kôshin Nikki (Giáp Thìn nhật ký)甲辰日記. Tác giả: Kinoshita Mokutarô 木下杢太郎 (1885-1945). Thời điểm: Từ 1903. Đặc tính: Tác giả là nhà thơ, giáo sư đại học , nhà nghiên cứu mỹ thuật và là một bác sĩ.
  31. Saiyuu Nikki Shô 西遊日記抄 (Ghi chép trích đoạn về những chuyến Tây du). Tác giả: Nagai Kafuu 永井荷風 (1879-1959). Thời điểm: 1903-1908. Đặc tính: Tác giả là giáo sư đại học và nhà văn lớn, hoạt động từ thời Meiji đến Shôwa.
  32. Shin Kichôsha Nikki 新帰朝者日記 (Nhật ký của người mới về lại Nhật Bản). Tác giả: Nagai Kafuu永井荷風. Thời điểm 1909. Đặc tính: Kafuu bộc lộ tài năng viết nhật ký văn học qua hồi ức về những năm tháng sống ở Mỹ và Pháp.
Lời kết luận của tác phẩm bằng tiếng Anh ấn bản 1999:

Trong khi soạn "Lữ khách giữa dòng thời gian" (Travelers of a Hundred Ages), tôi xem văn học nhật ký Nhật Bản như đã bắt đầu với tăng Ennin 円仁năm 847 và kết thúc với Kawaji Toshiakira川路聖謨 năm 1854 nghĩa là có một lịch sử dài trên 1.000 năm. Trong đó, vài nhật ký chỉ ngắn dăm trang nhưng cũng có nhật ký dài nhiều tập. Nhật ký vào thời Heian - đặc biệt nhật ký của các nữ quan cung đình (nyobô nikki女房日記) - đã được in ra kèm theo những lời bình chú tỉ mỉ nhưng các nhật ký của hai thời Muromachi và Tokugawa thì chỉ được gộp lại trong vài bộ sưu tập từ một trăm năm trước mà thôi và chưa có ai viết lời bình chú cũng như bỏ công biên tập chúng cho cẩn thận. Không cần phải nói, giá trị văn chương của những tác phẩm nhật ký cách nhau rất xa. Nếu có những tác phẩm trứ danh như "Những năm tháng vật vờ" (Kagerô Nikki) hay "Đường Mòn Miền Bắc"(Oku no Hosomichi) thì cũng có những tác phẩm nhật ký lữ hành mà ta chỉ cần giữ lại chỉ một mẩu chuyện hay một vài dòng chữ. Thế nhưng tôi nghĩ đã tìm thấy trong những tập nhật ký này - dù ngắn hay dài - cái mà mình hằng chờ đợi nghĩa là hình ảnh của người Nhật thể hiện qua chính ngôn từ của họ, lại được gói trọn trong một thể loại văn học có tính cá nhân nhất trong mọi thể loại.

Nhật ký đã nối kết với nhau thành một chuỗi không gián đoạn từ thời tăng Ennin tới thời Kawaji Toshiakira và dĩ nhiên, cho đến tận thời đại của chúng ta. Trong phạm vi hiểu biết của tôi thì trên thế giới, không thấy điều này ở một nơi nào khác. Ngay giữa cảnh chiến loạn của thời Trung Đại, các nhà nhật ký vẫn tiếp tục viết như thể mang hy vọng (có thể là trong vô thức) là mình sẽ giữ lại được chút gì giữa bao nhiêu cảnh hũy diệt và tàn phá chung quanh. Sự mong mỏi của họ đã được đền bù, đôi khi xãy ra trong chiều hướng mà ngay họ cũng không hề tiên liệu. Làm sao Shôchô 宗長dám mơ rằng cuốn sách ông sưu tập những bài Renga hài hước (Haikai renga 俳諧連歌) ngày nay có thể là tác phẩm duy nhất còn sót lại của thể loại này? Và nếu Gen’yo 玄与còn sống, ông sẽ ngạc nhiên khi biết rằng nhờ những điều ông ghi lại, người ta có được một chứng cớ có ích về tốc độ diễn xuất của sân khấu Nô vào thời đại ông sống.

Thế nhưng, tôi không tìm đến văn học nhật ký để có được những loại thông tin như vậy. Mục đích của tôi là niềm vui được khám phá qua các tác phẩm thời xưa những con người ngày ấy. Ở một trình độ nào đó, có lẽ họ cũng tương tự như những con người tôi gặp bây giờ. Những tập nhật ký sáng giá nhất là những tập cho ta nhiều thông tin về các tác giả của nó và những nhật ký nhàm chán nhất thuộc loại chỉ nói đi nói lại cái truyền thống Utamakura 歌枕qua thơ ca và nhật ký của các bậc tiền bối. Chúng ta thấy rõ rằng người Nhật ngày xưa cũng như ngày nay luôn luôn cảm thấy một niềm vui đặc biệt khi nhìn thấy bằng mắt mình những gì đã đọc trong sách vở hay nếm thứ "đặc sản" tại một vùng từng được nhắc đến trong văn chương. Một vài nhà phê bình còn gợi ý rằng người Nhật chỉ ngắm phong cảnh với những khái niệm có sẵn trong đầu (preconceptions). Nói như thế thì có hơi quá đáng nhưng nhiều khi ta cũng có thể ngả theo lập luận này khi đọc những đoạn dài mô tả cuộc lữ hành dọc con đường Tôkaidô (Đông Hải Đạo) mà trong đó, tác giả nói lên ấn tượng mình có khi được thăm viếng cùng một địa điểm với tiền nhân. Việc lập đi lập lại một trải nghiệm, dù là hàng năm tham gia hoặc chứng kiến một lễ hội, viếng một địa điểm đã nổi tiếng nhờ oai danh một vị tiền bối trong quá khứ vào đúng một ngày với người đó, đều là hành động hết sức tiêu biểu của người Nhật. Thế nhưng đây không phải là đặc tính duy nhất của nhật ký. Phải đợi đến thế kỷ thứ 19 mới thấy lại được những tác phẩm bộc lộ bản chất cực kỳ cá nhân từng thấy trong nhật ký của các nữ quan cung đình thời Heian hay trong Tôkai Kikô 東海紀行 (Đông Hải Kỷ Hành), Utataneうたたね (Giấc thiu thiu) và Towazugatari とわず がたり(Không Hỏi Cũng Thưa / Lời tâm sự của công nương Nijô二条). Dù vậy cá tính của từng tác giả đôi lúc vẫn lộ diện đó đây trong suốt dòng lịch sử văn học nhật ký, ngay nơi những cây viết kín đáo nhất. Vì hy vọng khám phá những chỗ mà tác giả tự bộc lộ về mình trước mặt độc giả, tôi (D. Keene) mới tìm đọc nhật ký, cả những quyến chẳng có tính chất văn chương là bao, nhưng phải nói là trong lúc làm việc này, tôi chẳng mấy khi bị thất vọng.

Người viết nhật ký là một lữ khách trong dòng thời gian. Những con chữ của họ đã vượt qua nhiều thế kỷ để đến gặp chúng ta và khiến cho họ trở thành những người bạn thân thiết của ta vậy.

Donald Keene
Biên soạn xong ở Tôkyô tháng 20/4/2019 (NNT)

Thư tịch tham khảo:

  1. Keene, Donald, Travelers of A Hundred Ages, The Japanese as revealed through 1,000 years of diaries. Columbia University Press, 1999, NewYork.
  2. Keene Donald, Kanehisa Hisao dịch, Hakutai no Kakaku (Bách đại quá khách / "Lữ khách giữa dòng thời gian"), Tập I: Chính biên (1.000 năm). Kôdansha, Tôkyô, xuất bản, 2011.
  3. Keene Donald, Kanehisa Hisao biên dịch, Hakutai no Kakaku (Bách đại quá khách / "Lữ khách giữa dòng thời gian"). Tập II: Tục biên (70 năm). Kôdansha, Tôkyô, xuất bản, 2012.

  4. Hình ảnh và tư liệu mạng Internet.