Ảnh minh họa (Japan
Times)
Một
Từ
hồi thơ bé tôi đã không một mái nhà và cũng chẳng có gia
đình.Ngày nhà trường nghỉ dạy, phải về làng hay về xứ,
tôi thường ghé ăn cơm nhờ ở đậu nơi bà con. Tôi đã đi
hết từ nhà người thân này sang nhà người thân nọ nhưng
có thói quen là vào mấy dịp nghỉ như vậy, thường hay lui
tới hai gia đình quen thuộc nhất. Hai ngôi nhà đều nằm cạnh
sông Yodogawa, một ở bờ Nam, một bên bờ Bắc, thuộc vùng
thôn làng xứ Kawachi và xứ Settsu. Tôi thường lấy đò để
qua lại hai bên. Đến đâu, tôi cũng được họ chào đón
bằng câu " Về rồi đấy à ? " (Okaeriyasu) chứ không phải
là " Mới đến chơi à ? " (Okoshiyasu).
Kỳ nghỉ hè năm
hăm hai tuổi, trong vòng chưa tới ba mươi ngày, tôi đã phải
đưa ba đám ma. Mỗi lần như vậy, tôi đều mặc bộ lễ
phục với áo khoác haori và quần váy hakama bằng lụa do người
cha quá cố để lại, đi tất tabi trắng, tay cầm xâu chuỗi
hạt.
Đầu tiên là đám
tang ở một phân nhánh của gia đình Kawachi. Mẹ ruột của
người đứng đầu chi tộc ấy đã qua đời. Bà cụ này là
người cao tuổi vì có đến ba mươi đứa cháu nội ngoại,
đã lâm bệnh từ lâu và được chăm sóc tận tình cũng như
chạy chữa hết cách nên có thể nói là lúc cụ vãng sinh
cực lạc, trong nhà không còn gì để hối tiếc. Tôi chỉ
cảm thấy nỗi buồn mất mát khi nhìn cái dáng ủ rủ của
ông trưởng tộc và đôi má nhợt nhạt của đám cháu nội
ngoại. Thế nhưng nó không phải là tình cảm ai điếu trực
tiếp phát sinh ra từ sự tiếc thương người quá cố. Dù
tôi có thắp nhang cho người chết nhưng khuôn mặt nằm trong
áo quan kia hoàn toàn xa lạ đối với tôi. Ngay sự hiện hữu
của một nhân vật như bà cụ, thường ngày tôi cũng không
để ý.
Trước giờ di quan,
trong bộ lễ phục với xâu chuỗi hạt và cây quạt trên tay,
tôi được người anh họ từ Settsu tới viếng tang dẫn đi
chào để chia buồn với gia chủ. Tuy tôi còn trẻ nhưng so
với người anh họ ấy thì nhất cử nhất động của tôi
đều trầm tĩnh và đúng nghi thức hơn nhiều. Tôi làm xong
nhiệm vụ ấy một cách dễ dàng. Người anh họ có hơi ngạc
nhiên nên đã nhìn theo động tác của tôi mà bắt chước.
Là người thuộc dòng chính (honke), tôi không bắt buộc phải
bày ra một bộ mặt u ám trước năm sáu người anh em họ
của gia chủ đang tụ tập nơi đó.
Khoảng một tuần
sau, khi đang ở Kawachi thì tôi nhận được điện thoại của
người anh họ từ Settsu [1].
Lần này chỉ là đám tang ở một chi trong gia đình mà người
chị họ tôi về làm dâu nhưng anh vẫn dặn dò tôi : " Thế
nào chú cũng phải đến đấy nghe! ". Lý do là hình như lúc
gia đình tôi có tang, người trong gia đình kia cũng từng đến
phúng viếng. Tôi đi theo đoàn của người anh họ ở Settsu
nhưng khi đến nơi thì ngoài tang chủ, tôi không biết ai là
họ là hàng. Ngay cả người chết, có lẽ tôi cũng không biết
nốt. Nhà người chị họ được dùng làm chỗ để nghỉ
ngơi cho người đến dự cuộc hợp táng (gassô) [2]
nhưng thân quyến phía chồng bà lại có được một chỗ tụ
tập riêng. Nơi đó tôi không thấy ai nói chuyện về người
vừa nằm xuống. Họ chỉ than vãn là trời nóng và chờ giờ
di quan. Đôi khi lại có một ai đó đặt câu hỏi xem người
chết là ai và năm nay mấy tuổi nữa. Còn tôi thì chỉ ngồi
tiếp tục ván cờ Go và chờ giờ cái giờ ấy.
Sau đó, một lần
nữa, ông anh họ ở Settsu lại điện thoại cho tôi ở nhà
ông anh Kawachi. Lần này ông nhờ tôi thay mặt đến dự đám
tang một người bà con cực kỳ xa thuộc gia đình bên chồng
của bà chị họ. Khổ nỗi, tên người nhà có tang, tên làng
xóm ông ấy ở cũng như nơi đặt mộ thì ngay ông anh họ
này cũng không rõ. Bỗng nhiên giữa câu chuyện, ông thốt
ra một câu nói đùa :
-Chú là " tay đưa
ma giỏi số một " đấy !
Tôi chợt im bặt.
Mặt tôi lúc đó đổi sắc như thế nào thì vì đang nói chuyện
qua điện thoại, ông không thể biết được. Tôi mới bảo
là tôi vừa đi đám tang ba nơi xong đấy. Vợ ông anh họ trong
căn nhà tôi đang ở mới cười ngao ngán và bảo sao mà chú
giống như " dân nhà đòn " (sôshikiya) vậy. Vừa khâu vá, bà
vừa ngắm nghía khuôn mặt của tôi. Buổi tối hôm đó, vì
phải sang ngủ bên nhà ông anh họ ở Settsu để sáng sau còn
từ đó mà đi, tôi đã lấy đò qua sông Yodogawa.
Lời bông đùa bảo
tôi là " tay đưa ma giỏi số một " của ông anh họ xứ Settsu
khi nói chuyện với tôi đã khiến tôi nhìn lại bản thân
mình. Tôi thấy câu nói của anh sao mà đúng y cảnh ngộ và
quá khứ của tôi đến thế. Thực vậy, từ hồi còn nhỏ,
tôi đã dự không biết bao nhiêu đám ma. Tôi đã rành rẽ
mọi tập quán tang lễ của người dân vùng Settsu. Một phần
vì tôi thường xuyên chứng kiến cái chết của những người
thân. Phần khác vì tôi đã phải đại diện gia đình đi dự
những buổi lễ hợp táng phiền hà của các làng vùng nông
thôn. Nhiều nhất là các buổi lễ tang tổ chức theo nghi thức
Tịnh Độ Tông và Chân Tông nhưng cũng có những buổi lễ
kiểu Thiền Tông và Nhật Liên Tông nữa.
Chỉ dựa vào ký
ức mà thôi thì tôi đã chứng kiến cảnh lâm chung của người
ta được năm sáu lần rồi.Tôi nhớ đã ba bốn bận có dịp
làm nhân vật đầu tiên cầm bút chấm nước cho ướt môi
trong nghi thức tiễn đưa người sắp lìa đời. Tôi đã từng
có kinh nghiệm làm kẻ mở đầu và kết thúc các buổi lễ
thắp nhang. Ngay cả chuyện hốt cốt hay nạp cốt vào hũ tro,
đôi khi tôi cũng đã từng làm. Tôi lại biết rõ tập quán
tổ chức các tuần thất sau khi người chết được chôn cất
nữa.
Tôi đều không
biết mặt mũi ba người chết mà tôi đã đi dự tang lễ trong
mùa hè năm đó. Tôi không cảm thấy một cách trực tiếp
nỗi buồn đến từ những cái chết đó. Chỉ có khi thắp
nhang ngoài mộ là tôi phải dẹp sạch khỏi đầu mình mọi
tạp niệm để có thể lặng lẽ khấn khứa cho cố nhân được
siêu sinh. Dù tôi nhận ra rằng trong đám người trẻ, không
thiếu chi những kẻ để thỏng tay và chỉ cúi đầu khi dâng
hương, tôi đã chắp nguyên hai tay.Tôi cũng nghĩ rằng thái
độ của tôi còn kính cẩn với người chết hơn cả một
số người đến dự hợp táng mà không mấy gần gũi với
người chết. Nếu tôi đã làm được như thế là vì khi bị
kích thích bởi cảnh tượng tang lễ đang xảy ra, tôi có thể
hồi tưởng lại lúc những người thân của tôi còn sống
hay lúc họ sắp phải ra đi. Ngược lại, nhờ có khả năng
hồi tưởng ấy mà tâm hồn của tôi đã trở nên phẳng lặng
một cách tự nhiên. Thế rồi, chỉ khi dự đám tang những
người mình không quen bao lăm lúc sinh tiền, tôi mới có tình
cảm như đang đưa dòng ký ức cùng theo mình đến nghĩa trang,
vừa chắp hai tay chào cái ký ức ấy vừa thắp hương hành
lễ. Chính vì lý do đó mà một thiếu niên như tôi đã có
được thái độ phù hợp với tình huống ở đám tang những
người tôi chưa từng gặp cũng như chưa bao giờ quen biết.
Thái độ đó không có gì gọi là giả tạo. Những buổi lễ
như thế chỉ giúp tôi cơ hội để bày tỏ nỗi buồn mình
đang chất chứa trong tim.
Hai
Tôi không giữ lại
ký ức nào về đám tang của bố mẹ mình. Ngay kỷ niệm lúc
ông bà còn sống tôi cũng không nhớ. Người chung quanh hay
căn dặn tôi đừng quên bố mẹ nhé hay cứ bảo tôi hãy cố
nhớ lại những chuyện xưa nhưng dù có muốn tôi cũng không
tài nào. Khi nhìn mấy tấm ảnh thì cái hiện ra trước mắt
tôi là một hình ảnh trung gian mơ hồ, không phải là tranh
vẽ mà cũng chẳng phải là người sống, tuy không phải ruột
thịt nhưng cũng không giống người dưng.
Nó chỉ đem đến
cho tôi một cảm giác bức bách và làm như khi đem ra đối
chiếu hai bên thì cả bức ảnh và tôi đều phải cảm thấy
xấu hổ. Mỗi khi được người khác kể chuyện về cha mẹ
mình, tôi lúng túng không biết nên nghe lời họ với một
tâm tình như thế nào và chỉ mong sao câu chuyện sẽ kết
thúc chóng vánh. Ngày qua đời cũng như tuổi thọ của bố
mẹ, tôi cũng quên đi một cách dễ dàng như kiểu người
ta quên con số ghi trên biển xe hơi hay xe điện. Bà bác kể
cho tôi nghe rằng trong đám tang của bố, tôi đã khóc lóc,
ngang ngược đòi không được đánh chiêng trên bàn Phật,
đòi tắt ngọn đèn thờ cũng như đòi đổ hết dầu đựng
trong cái bình đất ra ngoài sân. Không hiểu sao chỉ có mấy
câu chuyện như thế là tôi còn giữ lại ấn tượng.
Ông nội tôi cũng
từng lên Edo nhưng cha tôi mới là người đã tốt nghiệp
trường Y Tôkyô. Pho tượng đồng của thầy hiệu trưởng
ngôi trường đó hãy còn nằm ở ngôi đền Tenjin [3]
trong khu Yushima. Hồi tôi lên Tôkyô lần đầu, khi được người
ta dẫn đến đằng trước pho tượng và giới thiệu về nó,
tôi đã có một cảm giác là lạ. Đúng là việc ngắm nhìn
pho tượng đồng kia và cảm thấy đó như một sự sống chưa
hoàn thành đã khiến tôi hổ thẹn về mình.
Đám tang bà nội
tôi được cử hành năm tôi vào tiểu học. Bà đã chung sức
với ông nội để nuôi dưỡng tôi, đứa cháu sức khỏe èo
uột. Lúc cháu nội vào được trường tiểu học, chắc bà
cảm thấy mình vừa trút bớt gánh nặng nên đã ra đi nhẹ
nhàng. Hôm tang lễ của bà trời mưa rất lớn và anh giúp
việc trong nhà tôi đã cõng tôi ra ngoài mộ. Cô chị tôi lúc
đó tuổi độ mười một mười hai mặc áo tang trắng toát
cũng được một người đàn ông địu đi đằng trước và
đang leo lên con đường núi đầy đất đỏ.
Bà nội mất đi,
lần đầu tiên tôi mới có một tình cảm sống động về
cái bàn thờ Phật nằm trong ngôi nhà của mình. Tôi chọn
giờ nào gian thờ Phật luôn đóng kín mít ấy không có bóng
ông nội là từ bên ngoài tôi sẽ đến đó để chơi cái
trò mở he hé cánh cửa, đóng lại rồi mở ra lần nữa mà
không bao giờ biết chán, chỉ với mục đích dòm trộm ngọn
đèn thắp sáng trên bàn Phật. Tuy nhiên tôi nhớ rằng mình
lại ghét việc mở toang cánh cửa trượt ấy để nhìn sâu
vào trong phòng. Mỗi lần ngẩng đầu nhìn mặt trời từ giã
đất bằng để chỉ còn nhuộm một thứ ánh sáng lặng lẽ
bên trên những đỉnh núi và ngọn đèo phía Tây thì không
hiểu vì sao, trong lòng đứa trẻ mới lên tám là tôi, lại
liên tưởng đến màu sắc của ánh sáng ngọn đèn trên bàn
Phật. Tôi nhớ là trên cánh cửa trượt màu trắng của gian
thờ Phật, tôi đã viết nguệch ngoạc cái pháp danh dài ngoằng
của bà tôi bằng thứ chữ katakana hãy còn vụng về của
một đứa trẻ mới học lớp vỡ lòng trường tiểu học.
Mấy hàng chữ ấy hãy còn y nguyên ở đó cho đến ngày gia
đình tôi bán nhà.
Trong những năm
về sau, điều duy nhất còn nổi lên trong ký ức mơ hồ của
tôi chỉ là màu trắng chiếc áo tang của người chị đang
được một anh đàn ông địu trên lưng. Khi tôi nhắm mắt
lại, cố ghi màu áo trắng ấy vào trong đầu óc và tứ chi
thì con đường đất đỏ và màn mưa đã dần dần hiện rõ
ra làm cho dòng hồi tưởng của tôi về nó trở nên nhòa nhạt.
Tôi không còn thấy những gì người đàn ông kia đang địu
trên lưng nữa. Thế rồi tất cả ký ức của tôi liên quan
đến chị mình chỉ còn là một vật trăng trắng đang phất
phơ giữa quãng trời đất đấy thôi.
Năm tôi lên bốn
lên năm thì chị được giao cho một gia đình khác nuôi rồi
đã qua đời năm tôi mười một, mười hai tuổi. Cũng như
chưa bao giờ biết đến tình thương của cha mẹ, tôi cũng
không biết đến tình thương của chị tôi. Bao lần ông nội
đã bắt tôi phải bày tỏ sự đau đớn khi chị mất và tôi
tự dò hỏi xem lòng mình thế nào nhưng đã lạc trong một
mê cung. Tôi không biết phải dựa vào một vật gì khả dĩ
gợi cho mình một tình cảm buồn khổ. Duy mỗi hình ảnh già
yếu và hết sức bi đát của ông nội là một mũi kim xuyên
thấu lòng tôi. Thế nhưng tình cảm của tôi chỉ tiến đến
được ông tôi và ngừng lại ở đó chứ không thể vượt
qua ông để sau đó tiến về phía chị. Ông nội tôi là người
tinh thông dịch lý, giỏi việc bói toán. Cuối đời vì bệnh
đau mắt, ông hầu như mù.Nghe tin chị tôi đang hấp hối,
ông chỉ lặng lẽ ngồi đếm mấy cái thẻ tre dùng để bói,
thử xem vận số đứa cháu sẽ như thế nào.Tôi đã chăm
chú nhìn cảnh tượng một ông già suy thị lực bày những
thẻ tre còn khuôn mặt mỗi lúc một chìm vào bóng tối. Thế
rồi vài ba hôm sau, thấy rằng không thể dấu ông lá thư
báo tin người chị qua đời mà mình đã nhận được từ
hai ba tiếng trước, tôi đã quyết định đọc nó cho ông
nghe. Thời đó, tôi đã có thể đọc được mặt chữ Hán
thông thường nhưng gặp phải lối viết thảo thì tôi còn
chưa đọc được nên đã cầm lấy tay ông rồi dùng ngón
tay trỏ của mình viết đi viết lại vào trong gan bàn tay ông
và học ông cách đọc. Nhớ lại cảm xúc khi cầm tay ông
để viết lên trên, đến bây giờ bàn tay trái của tôi hãy
còn thấy gai gai lạnh.
Đêm phát đại
tang Hoàng thái hậu Shôken [4],
ông nội tôi qua đời. Đó là mùa hè năm tôi mười sáu tuổi.
Trước khi ông tôi trút hơi thở cuối cùng, đờm rãi đã
nghẽn cả khí quản nên ông đưa tay cào cấu lồng ngực trông
rất khổ sở. Một cụ bà đang ngồi cạnh giường bệnh mới
than rằng một người đạo hạnh như Thần Phật thế này,
tại sao lúc vãng sanh lại phải đau đớn đến ngần ấy.
Vì không thể điềm nhiên ngồi nhìn cảnh tượng đó nên
chưa đầy một giờ đồng hồ, tôi đã bỏ trốn qua phòng
khác. Một năm sau, có lần một bà chị họ đã trách tôi
– giọt máu duy nhất của ông – tại sao lại có thái độ
bạc bẽo đến thế. Tôi đã giữ im lặng. Tôi thầm nghĩ
nếu chị ấy suy xét như vậy chắc cũng không sai. Từ khi
còn là một thiếu niên, tôi đã không bao giờ thích viện
một lý do nào đó để tự bào chữa. Hơn nữa, nhận xét
của bà cụ kia đã làm cho tôi quá xót xa nên chỉ có thể
giải thích hành động bỏ chỗ đang ngồi bên đầu nằm người
sắp chết và phóng ra ngoài của tôi giống như một cách rũ
sạch những nỗi hổ thẹn của ông tôi. Thế rồi, khi đang
giữ thái độ im lìm trước câu nói trách móc của bà chị
họ, tôi cảm thấy có một nỗi buồn bao la đột ngột kéo
đến và thấm sâu trong lòng mình. Tôi liền chụp lấy gấu
áo và đè lên mũi rồi cứ để nguyên chân đất phóng ra
ngoài và chạy bên trên những phiến đá lát ngoài vườn.
Đến một chỗ khuất dưới bóng cây, thấy không có ai, tôi
bèn ngồi xuống một tảng đá lớn chiều cao độ một mét
và đợi cho máu cam ngừng tuôn. Giữa khe hở của tàng lá
một cây sồi cổ thụ, nhìn lên tôi thấy những tia nắng
chiếu lấp lánh trong những mảng trời xanh nho nhỏ. Có thể
nói đây là lần đầu tiên trong đời tôi đã đổ máu cam
nhiều như vậy. Tôi mới biết những giọt máu cam này đã
đổ ra vì nỗi đau đớn trong lòng tôi kể từ ngày ông tôi
qua đời.Tang gia đang ở trong cảnh bối rối và người nhà
duy nhất là tôi đã phải ứng đối với không biết bao nhiêu
khách đến viếng để cho tang lễ được hoàn hảo. Phải
nói là tôi rất bận rộn, không một phút nghỉ ngơi. Cho đến
lúc đó, tôi chưa bao giờ có cơ hội ngồi suy nghĩ một cách
tỉnh táo về cái chết của ông nội tôi cũng như những gì
xảy ra cho bản thân sau đó. Tôi không nghĩ mình là một người
bạc nhược. Chỉ vì máu cam quá nhiều đã khiến tôi trở
nên kiệt lực. Tôi đã chạy ra ngoài như trong cơn mê chỉ
vì tôi không muốn phô bày trước mặt mọi người dáng vẻ
yếu ớt của tôi. Trước giờ động quan mà tang chủ là tôi
lại ở trong một tình trạng như vậy thì không những làm
phiền mọi người mà còn gây ra xáo trộn nữa. Mãi ba hôm
sau ngày tang lễ của ông nội, ngồi trên tảng đá trong vườn,
lần đầu tiên tối mới có đôi chút thời giờ yên tĩnh
cho riêng mình. Lúc ấy trong lòng tôi bỗng dậy lên một tình
cảm bàng bạc, mơ hồ là kể từ hôm nay, tôi chỉ còn có
một mình.
Sáng hôm sau, tôi
đã cùng với thân quyến và năm bảy người làng cùng đi
nhặt tro cốt của ông. Chỗ thiêu xác trên núi không có mái
che. Khi đào và bới tro lên, vẫn còn nguyên một vạt lửa
nằm bên dưới. Trong một đỗi, tôi vừa chịu đựng hơi
nóng hắt lên vừa nhặt cốt, nhưng lúc đó máu mũi tôi lại
trào ra lần nữa. Tôi bèn vứt mấy thanh tre dùng để gắp,
nói với người ta một hai câu gì đó rồi cởi cái thắt
lưng bằng vải, lấy đầu mút của nó chận trên mũi và tất
tả leo lên sườn núi như đang bị ma đuổi. Tôi chạy lên
được tới đỉnh. Khác với hôm qua, tôi làm cách gì máu
cũng không chịu cầm. Hơn phân nửa chiều dài giây thắt lưng
và bàn tay tôi đã bê bết máu. Máu nhỏ xuống lá cỏ thành
từng giọt. Khi ngửa mặt lên nằm yên lặng, mắt tôi có
thể nhìn thấy một cái hồ phía dưới chân núi. Tôi có cảm
tưởng ánh mặt trời phản chiếu từ nước hồ đã khiến
cho mắt tôi lòa đi. Tôi thấy mình như mất hết thị lực.
Chừng ba mươi phút sau, tôi nghe có tiếng ơi ới của một
đám người đang cùng nhau gọi tên tôi không biết bao nhiêu
lần. Cái thắt lưng màu đen tuy không để lộ cho ai thấy
nhưng đã đẫm đầy máu, tôi nghĩ đến lúc phải trở lại
lò thiêu. Mọi cặp mắt đều đổ dồn vào tôi ra chiều trách
móc. Họ cho biết đã tìm thấy cốt của ông cụ nên bảo
tôi hãy đến hốt đi. Trong lúc bươi những mảnh xương nhỏ
đó, lòng tôi chợt buồn rười rượi. Tôi vẫn quấn quanh
người cái thắt lưng trước đây ẩm ướt nhưng giờ đã
khô đi và săn lại. Chuyện tôi hai lần bị đổ máu cam rốt
cuộc chẳng có ai hay biết và sau đó, tôi quyết định sẽ
không bao giờ thổ lộ nó cho ai. Việc khui chuyện người thân
ra kể cho thiên hạ, hay là đi thăm dò qua người khác về
họ thì cho đến nay, tôi vẫn chưa làm một lần nào.
Nơi tôi được
nuôi dạy là một vùng nông thôn cách xa đô hội. Nếu tỏ
ra khoe khoang một chút thì có thể nói là năm mươi nóc gia
tức là toàn thể người làng đều đã đến khóc thương,
chia buồn cùng tôi. Khi linh cửu đi ngang qua làng, họ đều
ra trước mỗi ngả tư và các bà đã đứng khóc trước mặt
tôi, người vốn đang dẫn đầu đám tang. Những tiếng than
vãn : " Có tội nghiệp chưa ! Có tội nghiệp chưa ! " vẳng
lên liên tục. Tôi cảm thấy tủi hổ và người như cứng
lại. Đến một ngả tư nơi tôi vừa đi qua, đã thấy đám
đàn bà con gái đi vòng ra đằng trước để đến ngả tư
kế tiếp và lại tiếp tục khóc lóc ỉ ôi.
Từ thuở bé tôi
đã cố tình nghĩ rằng sự đồng tình của người chung quanh
chỉ là hình ảnh của lòng thương hại nên tôi chỉ xin phép
họ nhận có phân nửa vì xem đó như sự ưu ái chứ vẫn
kiêu hãnh từ khước cái phân nửa còn lại.
Sau đám tang của
ông nội tôi, hãy còn có đám tang người em gái của ông,
đám tang ông bác tôi, đám tang thầy học tôi cũng như những
người thân yêu khác và tất cả đã làm tôi buồn. Nói vể
bộ lễ phục cha tôi để lại thì tôi chỉ sử dụng một
lần trong một dịp vui mừng, đó là hôm đám cưới ông anh
họ, kỳ dư tôi đã mặc nó không biết bao nhiêu lần trong
các đám tang hay lúc phải ra ngoài nghĩa trang. Rốt cuộc, tôi
đã trở thành một " tay đưa đám ma lành nghề ".
Ba
Đám tang thứ ba
trong kỳ nghỉ hè năm nay nằm ở thôn bện cạnh, cách nhà
bà chị họ của tôi khoảng mười hai mười ba khu nhà ở.
Tôi đi đám ma mà làm như đang ghé đến chơi nhà bà chị
họ.Tôi đã ngủ lại đó một đêm. Khi ra về, tôi vừa cười
vừa nói đùa với người nhà của chị rằng :
-Kiểu này có lẽ
tôi sẽ trở lại đây lần nữa cũng không biết chừng. Đợi
đấy! Có một cô bị bệnh phổi không biết có qua khỏi mùa
hè này không ?
-Nếu " chuyên viên
tang lễ " không đến thì chúng tôi khó lòng tổ chức đám
tang!
Tôi bèn gói áo
haori, quần váy hakama vào trong tay nải và trở về ngôi nhà
ông anh họ ở Settsu. Cô em họ đang đứng ở ngoài sân. Cô
ta cười nói vui vẻ.
-" Ông nhà đòn
" về rồi đấy à ?
-Thôi, đừng nói
bậy nào ! Em kiếm muối đem tới đây cho anh !
-Muối à ? Để
làm gì ?
-Thì để tẩy uế
chớ sao ? Không thôi, anh không vào nhà đâu!
-Cái anh này ! Bị
tâm thần hay sao ấy nhỉ ?
Cô em họ đã đem
tới một vốc muối, vung lên cao, rắc khắp người tôi.
-Như vậy đã được
chưa nào ?
Cô lại đem cái
áo kimono hơi rịn mồ hôi mà tôi vừa cởi ra phơi trên hàng
hiên nơi có nhiều nắng cho mau khô. Thấy cô ngửi ngửi, mày
hơi nhíu lại và sau đó, làm như nhớ lại câu đùa cợt hồi
nãy, mới nói như reo:
-Ái chà ! Áo của
anh có mùi nghĩa địa kia kìa !
-Nói năng xúi quẩy!
Làm gì có mùi gọi là mùi nghĩa địa !
Cô em họ vẫn còn
cười :
-Em biết nó mà.
Là cái mùi khét như tóc cháy đó.
Dịch
ngày 31/3/2023
Xuất xứ
: Sôshiki no Meijin, đã đăng trên số Tạp chí Bungei Shunjuu
(Văn Nghệ Xuân Thu) số tháng 5 năm 1923. Nguyên tác Nhật ngữ
: Toàn Tập Kawabata Yasunari, quyển 2/35, Nxb Shinchô, Tôkyô, 1980
(trang 73-81).
Bên lề tác
phẩm :
Đoản thiên này
thường được độc giả trong nước biết đến với nhan
đề " Bậc thầy của tang lễ " nhưng chúng tôi chưa thấy
ai dịch ra Việt ngữ. Nếu quả như vậy thì mong rằng bản
dịch này sẽ đóng góp một phần nào vào sự tìm hiểu về
" dòng văn học xuất phát từ cái chết " của Kawabata. Cùng
lúc, ta có thể đọc song song với truyện trong lòng bàn tay
" Hốt cốt " (Kotsu-hiroi) cũng như hồi ức nhan đề " Nhật
ký năm 16 tuổi " (Juurokusai no nikki).
____________________
[1]
- Kawachi là tên một cựu phiên trấn nay thuộc về phía Đông
Ôsaka, còn Settsu là tên một cựu phiên trấn nay thuộc đoạn
giữa của Ôsaka, một phần lấn sang Kobe (Hyogo).
[2]
- Gassô (hợp táng) là tục lệ để tro của ít nhất hai người,
phần nhiều là người nhà, vào trong một ngôi mộ.
[3]
- Tenjin (Thiên Thần), Đền thờ vị thần tượng trưng cho
văn chương, thi cử là Sugawara Michizane.
[4]
- Chiêu Kiến Hoàng Thái Hậu (1850-1914), vợ cả của Thiên
hoàng Minh Trị. Xem thêm "Nhật ký năm 16 tuổi"nhưng không phải
mẹ đẻ Thiên hoàng Đại Chính, người vừa lên kế vị. |