| Chú
ý : " Thực Lục " mà tôi có, là tải từ Internet xuống, và
số trang là do tôi ghi : Trang 1, tập 1, bất đầu từ " Đại
nam thực lục. Tập một... Mã số : 7X372T4 ", và
trang cuối " (Hết phần Đệ nhất kỷ) " là trang 596. Do đó
số trang của " Thực Lục " trong bài viết nầy, không giống
như số trang của nhà Xuất Bản.
" Rước
voi về giày mả tổ, cõng rắn cắn gà nhà ". Hai câu đao to,
búa lớn, không một chút thông cảm, đầy vẻ hận thù, để
gán cho hai nhân vật lịch sử là vua Chiêu-Thống Lê Duy-Kỳ
và vua Gia-Long Nguyễn-Phước Ánh, của một số " Sử Gia ",
hãnh diện về đạo đức " Chí công vô tư " của người viết
Sử. Từ đó, hai câu trên được lan truyền ra đại chúng,
rồi có những người, vì quá hận thù, do những " Sử Gia
" trên truyền tụng, để, không một chút suy nghĩ, không đặt
mình
vào thời đại lịch sử, đã tùy tiện thẳng thừng nện
những búa rìu chí mạng lên hai nhân vật lịch sử trên, và
gọi hai vị là hai " TÊN bán nước cầu vinh ".
Cũng
nên nói liền ở đây, là vua Chiêu-Thống nhờ Trung Quốc giúp,
và quân Trung Quốc đã đặt chân lên đất nước Việt-Nam.
Còn vua Gia-Long cũng có nhờ Pháp giúp, nhưng khi thấy thế
quân sự của mình có thể bình định được giang sơn mà
Tổ Tiên đã dày công gây dựng, thì đã khéo léo từ chối
sự giúp đỡ của Pháp, vì thế mà không có quân chính quy
của Pháp trên đất nước Việt-Nam. [Xin xem phần nói
về Nguyễn Ánh ở dưới : Chuyện Nguyễn Ánh lợi dụng Bá-Đa-Lộc
cùng khoảng mười mấy người Pháp phiêu lưu, ít học, là
để trấn an lòng dân Nam Hà.].
Theo
tôi thì không chỉ có hai vị Nguyên Thủ Quốc Gia trên mới
đi cầu viên ngoại bang, mà ngay từ xưa cho đến thế kỷ
thứ 20, 21 cũng còn có các vị Nguyên Thủ Quốc Gia của một
số quốc gia đi cầu ngoại viện [Xem ở dưới]. Đó cũng
chỉ là sự " VẠN BẤT ĐẮC DĨ " nhất thời. Các Nguyên Thủ
Quốc Gia đều biết rằng, trong chiều dài của Lịch sử,
giữa bạn bè thân thiết với nhau, thì có những sự giúp
đỡ nhau KHÔNG VỤ LỢI, nhưng còn đối với các Quốc Gia,
thì sự " giúp đỡ " nhau đều có tính toán TRỤC LỢI cả.
Nhờ ngoại bang giúp, thì sớm muộn gì, rồi cũng phải trả
một cái giá rất đắt. Vậy một khi đã lâm vào cảnh " VẠN
BẤT ĐẮC DĨ ", thì phải chuẩn bị " Trả Nợ " với một
giá rẻ nhất, có thể có, để khỏi làm hại Nước, hại
Dân.
Theo
tôi, thì từ khi lập quốc cho đến thế kỷ thứ 21 nầy,
không có một vị Nguyên Thủ Quốc Gia Việt Nam nào và cũng
không có một người Dân Việt Nam nào làm cái chuyện khờ
dại " Rước Voi Về Giày Mả Tổ hay Cõng Rắn Cắn Gà Nhà
" cả, mà chẳng qua là sự " Vạn Bất Đắt Dĩ " nhất thời,
trong một tình thế Đất Nước khó khăn mà thôi.
Nói
đến Lịch Sử, thì phải đặt mình vào thời đại lịch
sử đó. Nền Quân Chủ Việt-Nam xưa (1), theo quan niệm Nho
Giáo : Triều Đại là Đất Nước. Phản lại Triều Đại
được xem như là Phản lại Đất Nước (Trung quân, Ái quốc).
Những vị vua " khai quốc " đã đánh đuổi ngoại xâm vì triều
đại trước, đã quá suy yếu, không kham nổi công việc nầy
; hay, vì gian thần, ấu chúa mà các vị đã tự lập lên làm
vua. Theo Nho Giáo, đó là Mệnh Trời ban (Thiên Tử). Còn những
vị vua kế vị thì theo nền " Quân Chủ Tôn Quân Tập Truyền
", nên, ngoài bổn phận, và trách nhiệm giữ gìn cho Đất
Nước hùng mạnh, Nhân Dân an lạc, thì còn có bổn phận và
trách nhiệm giữ gìn Triều Đại, Đất Nước mà Cha Ông đã
dày công gây dựng. Đó là một bổn phận, một trách nhiệm
nặng nề mà các vị vua kế nghiêp buộc phải gánh vác.
(1) Chứ không
phải là Phong Kiến, như ta thấy đầy dẫy trên các báo chí,
trên mạng Internet (90%). Nước Việt Nam của chúng ta chưa bao
giờ có nền Phong Kiến như ở Trung Quốc. Nên xem lại các
Từ/Tự điển hai chử Phong Kiến. Có người còn lẫn lộn
" Phong Kiến " trong nghĩa " Đời xưa ".
A
- Rước voi về giày mả tổ - Vua Lê Chiêu Thống.
Trong
một hoàn cảnh cực kỳ rối loạn, với Trịnh Bồng, Đinh
Tích Nhưỡng, Hoàng Phùng Cơ, Dương Trọng Khiêm..., vua Chiêu-Thống,
không có quyền hành, không có tiền bạc cùng binh lính gì
hết, nhưng vua đang có bổn phận gìn giữ tiền đồ của
Tổ Tiên để lại gần khoảng 360 năm, nên xuống chiếu Cần
Vương. Nguyễn Hữu Chỉnh, được Nguyễn Huệ cho trấn thủ
Nghệ-An, đã đắp ưng lời chiếu Cần Vương, để trục lợi
cho riêng mình. Năm 1786, Nguyễn Hữu Chỉnh đánh tan quân Trịnh,
rồi nắm trọn quyền chính trong tay, còn muốn phản lại Tây
Sơn bằng cách đòi trả lại Nghệ An cho nhà Lê. Nguyễn Huệ
sai Vũ Văn Nhậm ra Bắc giết Nguyễn Hữu Chỉnh, còn vua Lê
Chiêu-Thống thì chạy trốn ra Kinh Bắc.
Thái
Hậu, mẹ vua cùng con trai vua được các quần thần phò tá
sang Long-Châu, thuộc nhà Thanh, gặp Tổng đốc Lưỡng Quảng
Tôn Sĩ Nghị và Tuần phủ Quảng Tây Tôn Vĩnh Thanh cầu xin
cứu viện. Tôn Sĩ Nghị tâu lên vua Càn-Long và được Càn-Long
chấp thuận. Tôn Sĩ Nghị bèn điều động quân 4 tỉnh
Quảng-Đông, Quảng-Tây, Vân-Nam và Quý-Châu kéo sang Đại-Việt,
sai Lê Quýnh, Nguyễn Quốc Đống về tâu lại với vua Chiêu-Thống.
Vua bấy giờ mới biết, liền sai Tham Tri Chính Sự Lê Duy-Đản
và Hàn Lâm Hiệu Thảo Trần Danh Án đi đường tắt lên đón
quân nhà Thanh. Tôn Sĩ Nghị đưa vua Chiêu-Thống về Thăng-Long
và phong cho làm " An Nam Quốc Vương ". [Xem Lê Chiêu Thống
trên Wikipedia, tiếng Việt, trên mạng Internet, trích theo " Khâm
Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục " và " Hoàng Lê Nhất
Thống Chí "].
Nguyễn
Huệ nghe tin quân Thanh sang Thăng-Long, bèn lên ngôi Hoàng Đế,
niên hiệu Quang-Trung, dẫn quân ra Bắc phá tan quân Thanh (vua
Quang-Trung vào Thăng-Long ngày mùng 5 tháng Giêng, năm Kỷ-Dậu
[30/01/1789]). Vua Chiêu-Thống theo tàn quân của Tôn Sĩ Nghị
sang Trung-Quốc và xin cho quân cứu viện một lần nữa, nhưng
vua Càn-Long đã già yếu, không muốn chiến tranh nữa, nên
hứa hão với vua Chiêu-Thống, rồi phong vua Quang- Trung làm
" An Nam Quốc Vương ". Vua Chiêu-Thống cùng bầy tôi phản đối
kịch liệt, Càn-Long bèn an trí tôi thần nhà vua, một người
một ngả, không liên lạc được với nhau. Năm 1792, người
con trai chết, nhà vua thấy tuyệt vọng và chán nản, lâm bệnh
rồi qua đời ngày 16 tháng 10 năm Quý-Sửu (1793) tại Yên-Kinh.
Nhà Thanh an táng vua theo nghi thức tước Công. Năm 1804, dưới
triều vua Gia-Long, vua Gia-Khánh nhà Thanh cho phép đưa linh cữu
vua Lê, Thái hậu và con trai của vua Chiêu-Thống về nước.
Tháng 11 (âm lịch ?) cùng năm, táng nhà vua ở lăng Bàn-Thạch,
nay là xã Xuân-Quang, huyện Thọ-Xuân, tỉnh Thanh-Hóa (2).
(2) Nguồn
lấy từ Wikipedia tiếng Việt, nói về vua Lê Chiêu Thống,
trích trong " Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục
" và " Hoàng Lê Nhất Thống Chí ".
Thật
là tội nghiệp. Nhờ quân nhà Thanh cũng chỉ là chuyện " Vạn
Bất Đắt Dĩ ", để giữ lại tiền đồ của Tổ Tiên đã
dày công gây dựng gần 400 năm, mà thôi. Dưới triều Tự-Đức,
vua Dực-Tông Anh đã viết :
"
Nhà vua bị người ta lừa gạt, bị giám buộc ở quê người
đất khách, đến nỗi lo buồn phẫn uất, ôm hận mà chết,
thân dẫu chết, nhưng tâm không chết [tục truyền rằng, khi
cải táng nhà vua, trái tim nhà vua còn nguyên vẹn], kể cũng
đáng thương ! Vậy nên truy đặt tên thụy là Mẫn Đế ",
và đến triều Kiến-Phước (1884) được phong là Mẫn Hoàng
Dế. Nhà vua được thờ ở đền thờ các vua nhà Lê ở thôn
Kiều-Đại thuộc tỉnh Thanh-Hóa với danh xưng Nghị Hoàng
Đế. [Xem Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục,
Chính biên quyển thứ 47. Trang 1 000, 1 001].
Cũng
nên nói thêm : Cha, vua Quang-Trung, đánh đuổi quân Thanh, thì
con, vua Bảo-Hưng Quang-Toản, (con vua Quang-Trung) lại sai phái
đoàn sứ giả Nguyễn Đăng Sở, năm 1801, sang Tàu nhờ giúp
quân, khi bị Nguyễn Ánh đánh thẳng ra Bắc. Tuy nhà Thanh không
giúp, nhưng Quang-Toản cũng đã sai sứ sang Tàu cầu viện.
[Xem Đại Nam Liệt Truyện, NXB Thuận Hóa, 1993, Tập 2, trang
537. Ghi tắt : Liệt Truyện, Huế 1993]. Vậy Quang-Toản
cũng có ý " Rước Voi về Giày Mả Tổ " à ? hay cũng vì "
Vạn Bất Đắt Dĩ " ?
B
- Cõng rắn cắn gà nhà - Vua Nguyễn Gia-Long.
Phải
chăng Nguyễn Ánh đã lợi dụng một vài người Pháp phiêu
lưu, để rồi sau nầy, Pháp chiếm lấy Việt-Nam làm thuộc
địa ?
I
- Nhờ quân Xiêm giúp.
1)
Qua Xiêm lần thứ nhất.
Cũng
vì nhờ Nguyễn Hữu Thụy (Thoại, Thoại Ngọc Hầu) tướng
của Nguyễn Ánh, lúc trước không đánh mình, do Chân lạp
cầu viện, còn làm một Hiệp Uớc Liên Minh quân sự (bẻ
tên ăn thề) [Xem Liệt Truyện, Huế 1993, trang 567] (3),
nên ba vua Xiêm Chất-Tri, Sô-Si và cháu là Ma- Lặc (vua
thứ nhất, vua thứ hai và vua thứ ba, làm vua cùng một lúc),
có ý giúp Nguyễn Ánh, trong lúc Nguyễn Ánh bị Tây-Sơn đánh
đuổi đến cùng :
....
" Tháng 2 (âm lịch, [năm 1784]). Trước là, sau cuộc bại trận
ở Bến Nghé, Chu Văn Tiếp chạy sang Xiêm cầu viện. Vua Xiêm
bằng lòng, sai tướng là Thát Xỉ-Đa đem thủy quân sang Hà-Tiên,
tiếng là sang cứu viện mà ngầm dặn, đón vua sang nước
họ. Tướng Xiêm cố mời vua sang Xiêm. Vua bất đắc dĩ phải
theo lời " ....
....
" Mùa hạ, tháng 6, vua từ nước Xiêm đem quân về Gia-Định.
Vua Xiêm sai hai cháu là Chiêu Tăng và Chiêu Sương đem 2 vạn
thủy quân và 300 chiến thuyền để giúp " .... [Xem Thực
Lục, Tập1, Trang 128 đến trang 134].
Thực
Lục, tập 1, trang 134 (3), viết : " Vua lấy Chu Văn Tiếp làm
Bình Tây đại đô đốc, điều bát các quân. Ngày nhâm thìn,
xuất phát từ thành Vọng-Các, đi ra cửa biển Bắc-Nôm.
Mùa
thu, tháng 7 [1784], quân ta tiến đánh được đạo Kiên-Giang,
phá được Đô đốc giặc là Nguyễn Hóa ở sông Trấn-Giang,
rồi thẳng đến xứ Ba-Xắc, Trà-Ôn, Mân-Thít, Sa-Đéc, chia
quân đóng đồn.
Lấy
Mạc Tử-Sinh làm Tham tướng trấn Hà-Tiên, quản lý binh dân
sự vụ.
Sai
Cai cơ Trịnh Ngọc Trí đem mật chỉ đến các đồn chiêu
dụ những bề tôi cũ và những sĩ dân hào kiệt. Ngọc Trí
đến Liêm-Áo [Vũng-Liêm], phó đốc chiến giặc là Lý (không
rõ họ) vâng mệnh đem quân sở bộ đến hàng.
Mùa
đông, tháng 10, Ngoại tả chưởng dinh Bình Tây đại đô đốc
Chu Văn Tiếp đem thủy binh đánh giặc ở sông Mân-Thít. Chưởng
tiền giặc là Bảo cự chiến hồi lâu. Văn Tiếp nhảy lên
thuyền, bị giặc đâm trúng. Vua vẫy quân đánh gấp, chém
được Chưởng tiền Bảo. Quân giặc bị tử thương rất
nhiều, phải bỏ thuyền chạy. Phò mã giặc là Trương Văn
Đa chạy đến Long-Hồ. Quân ta bắt được thuyền ghe khí
giới rất nhiều. Văn Tiếp bị thương nặng, hét lớn lên
rằng: " Trời chưa muốn dẹp giặc Tây-Sơn à ! " rồi chết.
(Lại có một thuyết nói trận ấy quân ta đã phá được
thuyền giặc đậu ở bờ sông, Văn Tiếp nhảy qua thuyền
khác bị mũi gươm trần đâm phải mà chết). Vua thương tiếc
điếng người, than rằng : " Văn Tiếp cùng ta chung cuộc vui
buồn, nay đến nửa đường bỏ ta, thực khiến tình người
khó nỗi ". Cho gấm lụa để hậu táng. (Năm Minh-Mệnh thứ
5, tòng tự ở Thế miếu, năm thứ 12, phong Lâm-Thao quận công
".
(3) : " Thực
Lục " mà tôi có, là tải từ Internet xuống, và số trang là
do tôi ghi : Trang 1, tập 1, bất đầu từ " Đại nam thực lục.
Tập một ... Mã số : 7X372T4
", và trang cuối " (Hết phần Đệ nhất kỷ) " là trang 596.
Do đó số trang của " Thực Lục " trong bài viết nầy, không
giống như số trang của nhà Xuất Bản.
Cũng
vì cái Hiêp Ước Liên Minh Quân Sự đó, mà tháng Hai (âm lịch),
năm Mậu-Ngọ, [1789], Xiêm bị Miến-Điện đánh, Xiêm cầu
viện. Nguyễn Ánh sai tướng Nguyễn Hoàng Đức và tướng
Nguyễn Văn Trương đem binh thuyền đi cứu viện. Đến Côn-Lôn,
biết tin quân Xiêm đã thắng rồi, bèn rút quân về.
[Xem Thực Lục, tập 1, trang 217, và Liệt Truyện, Huế 1993,
trang 567].
Tháng
12, Nguyễn Nhạc nghe tin cáo cấp, tức thì sai Nguyễn Huệ
đem binh thuyền vào cứu Sài-Gòn.
Quân
Tây-Sơn bị thua nhiều trận. Quân Xiêm đâm ra tự cao, tự
đại, đi phá phách, khuấy nhiễu dân lành làm cho Nguyễn Ánh
định bỏ Gia-Định : " Vua thấy quân Xiêm tàn bạo, đến
đâu là cướp bóc (đến) đấy, nhân dân ta oán rất nhiều,
bảo các tướng rằng : Muốn được nước phải được lòng
dân. Nay Chu Văn Tiếp đã mất, quân Xiêm không ai chế ngự
được. Nếu được Gia-Định mà mất lòng dân thì ta cũng
không nỡ làm. Thà hãy lui quân để đừng làm khổ nhân dân
". [Thực Lục, tập 1, trang 134].
Nguyễn
Huệ cũng thấy bị thua hoài, đâm ra chán nản, muốn đem quân
về. Cũng may có tướng của Nguyễn Ánh, hàng quân Tây Sơn
là Lê Xuân Giác (4) bày kế cho Nguyễn Huệ đem hết quân mạnh
mai phục ở Rạch-Gầm và ở sông Xoài-Mút (thuộc tỉnh Định-Tường),
rồi dụ quân Xiêm lại đánh. Tướng Xiêm là Chiêu Tăng và
Chiêu Sương không hiểu địa thế khó dễ ra sao, cậy mình
thắng luôn, bèn dẫn quân tiến thẳng đến Mỹ-Tho, cuối
cùng bị phục binh của Tây-Sơn, thủy bộ hai mặt ập đánh.
Chiêu Tăng và Chiêu Sương thua to bỏ chạy, chỉ còn vài nghìn
lính theo đường núi Chân-Lạp mà chạy về ". Nên nói thủy
quân của Nguễn Huệ ở trận nầy là Hải Tặc [Xem
Thực Lục năm 1784, trang 134 và D. Murray, " Pirates of the
South China Coast 1790-1810 ", in năm 1987, trang 65].
(4) [Lê Xuân
Giác là một tướng của Nguyễn Ánh, vì bị cô thế phải
hàng quân Tây Sơn, không biết sau nầy ông bị tử trận hay
theo Tây Sơn. Có những vị tướng của Nguyễn Ánh, hàng Tây
Sơn, vì cô thế như những tướng Nguyễn Tiến Văn, Lê Văn
Duyệt, Nguyễn Văn Khiêm, vân vân..., nhưng sau khi Nguyễn Ánh
về lại Nam Hà, thì họ bỏ Tây Sơn và về lại với Nguyễn
Ánh. Xem Thực Lục, tập 1, năm 1784, trang 134].
2)
Qua Xiêm lần thứ hai.
Sau
trận Mỹ-Tho, các tướng của Nguyễn Ánh cũng đều vỡ chạy.
Nguyễn Ánh về lại Trấn-Giang, may gặp được Mạc Tử-Sinh
bỗng đi thuyền tới. Nguyễn Ánh bèn sai Tử-Sinh và Cai cơ
Trung (không rõ họ, cậu Chu Văn Tiếp) sang Xiêm báo tin.
Tháng
3 (âm lịch) [1785], Quân Tây Sơn đuổi bức sát đến Thổ-Châu.
Nguyễn Ánh lại sang đảo Cổ-Cốt, gặp Cai cơ Trung đem binh
thuyền Xiêm đến đón, Nguyễn Ánh bèn sang Xiêm. Bầy tôi
đi theo có khoảng 20 tướng và 200 quân với 5 chiến thuyền
là chiếc Phượng-Phi, Bằng-Phi, Hùng-Trì, Chính-Nghi và thuyền
Ô.
Tháng
4, Nguyễn Ánh đến thành Vọng-Các. Vua Xiêm nhân hỏi tình
trạng sự thất bại. Nguyễn Ánh nói : " Ngài trọng tình láng
giềng giao hảo cho quân sang giúp, nhưng vì Chiêu Tăng, Chiêu
Sương kiêu ngạo và phóng túng, tới đâu cũng tàn bạo, dân
đều oán cả, cho nên đến nỗi thất bại ". Vua Xiêm giận
lắm, muốn chém Chiêu Tăng và Chiêu Sương. Nguyễn Ánh lại
can, vua Xiêm mới thôi. [Thực Lục, tập1, trang 135].
Nguyễn
Ánh cho rằng thế giặc Tây Sơn đang còn mạnh, đành xin trú
ở Long-Kỳ (Xiêm gọi là Đồng-Khoai, ở ngoại thành Vọng
Các), sai người đi rước mẹ cùng gia quyến sang Long-Kỳ.
Từ đó, sai quân khai khẩn đất hoang để tự túc. Các tướng
nghe tin cũng đem quân sang tụ họp ở đây. Nguyễn Ánh một
mặt lo luyện quân, một mặt sai các tướng ra các đảo ở
vịnh Xiêm La lo đóng thuyền, tập trận.
Tháng
2 năm Bính-Ngọ [1786], Diến Điện do ba đường tiến binh xâm
lấn đất nước Xiêm. Vua Xiêm tự đem quân chống cự. Trước
là để cám ơn các vua Xiêm đã cho trú ngụ, sau cũng để
cho quân tướng có dịp thực tập, Nguyễn Ánh xin làm tiên
phong, sai Lê Văn Quân và Nguyễn Văn Thành đi trước, dùng
ống phun lửa để đánh. Quân Diến-Điện sợ chạy, chết
không kể xiết, bị bắt 500 người. Tháng 3, quân Chà Và lại
đánh Xiêm. Nguyễn Ánh sai Lê Văn Quân đem thủy binh cùng với
vua thứ hai nước Xiêm đánh dẹp được. Hai vua Xiêm thán
phục và xem trọng quân, tướng ta, đem vàng lụa đến tạ,
đãi ngộ rất hậu, và muốn giúp quân một lần nữa cho Nguyễn
Ánh thu phục lại Gia Định. Đây cũng chỉ là một hiệp ước
giúp đở nhau giữa hai nước, tuy không có văn bằng.
[Xem Lê Nguyễn " Quan hệ giữa nhà Tây Sơn với hải tặc Trung
Hoa ". TríThức VN)].
Nguyễn
Ánh bàn lại với các tướng, thì Nguyễn Văn Thành cho rằng
nếu mượn quân Xiêm, thì có thể xảy ra chuyện hiếp đáp
dân mình như lần trước, năm 1784, vả lại mượn quân nước
ngoài, thì thắng hay thua gì, đưa " Di Địch " vào trong tâm
phúc thì sợ để lo về sau nầy. Nguyễn Ánh và các tướng
cho là phải, nên từ chối việc mượn quân [Thực Lục,
tập 1, trang 136].
Tháng
2, năm Đinh Mùi [1787], Nguyễn Nhạc sai Đông Định Vương Nguyễn
Lữ và Phạm Văn Tham giữ Gia-Định. Tháng 7, Nguyễn Ánh lén
đưa quân, tướng cùng gia đình về Hòn-Tre, chỉ để lại
một cái thơ cám ơn các vua Xiêm. Khi vua Xiêm biết thì Nguyễn
Ánh đã đi khỏi Xiêm rồi. Sau vài trận đánh với quân Tây
Sơn, Nguyễn Ánh chiếm lại thành Gia-Định vào tháng 8 (âm
lịch) [1788] ...
Theo
Lê Nguyễn trong bài " Chút suy nghĩ về chuyện "Cõng rắn cắn
gà nhà" của Nguyễn Ánh - Gia Long - TríThức VN, ngày 28/08/2021
" thì :
"
Không thể coi Nguyễn Ánh là "cõng rắn" khi ông sử dụng quân
Xiêm như một công cụ để tăng cường sức mạnh của quân
đội do ông và các tướng Việt chỉ huy. Việc quân Xiêm lợi
dụng cơ hội để tàn hại dân lành là một tình huống bất
ngờ trong chiến tranh, nằm ngoài dự kiến của cả phía Việt
lẫn phía Xiêm. Tất nhiên, Nguyễn Ánh và các tướng của
ông phải chịu trách nhiệm về biến động này, và như những
phát biểu của ông với các tướng, điều này chỉ có tính
nhất thời và vượt ra ngoài khả năng kiểm soát của phía
Việt. Nếu quân Xiêm được đưa sang Đại Việt nhằm mục
đích xâm lược, vua Xiêm đã không nổi trận lôi đình đòi
mang hai người cháu ra chém đầu về những việc làm tệ hại
mà binh lính của họ đã gây ra ".
3)
Hải Phỉ, Tề Ngôi.
Nói
đến Nguyễn Ánh thì phải nói đến vua Quang Trung Nguyễn Huệ.
Nhưng hiện giờ, đụng đến vua Quang Trung thì cũng như đụng
đến một tôn giáo vậy, vì lý do chính trị cũng có, vì những
người lấy " tâm tình " viết sử cũng có. Họ đã thổi phồng
vua Quang Trung, gán cho vua Quang Trung những đức tính mà nhà
vua không có, những điều mà nhà vua chưa từng làm tới, chưa
từng nghĩ tới, rồi thần thánh hóa vua Quang Trung, biến nhà
Tây Sơn như một tôn giáo vậy. [Xem Tiệu Minh Di (Không
nhớ tên tác phẩm của ông nói về vua Quang Trung), Nguyễn
Văn Lục " Nhìn lại sử liệu viết về Nguyễn Huệ Quang Trung
và Gia Long Nguyễn Ánh ", George Dutton " Ý kiến nói Tây Sơn
'giải phóng nông dân' chỉ là huyền thoại ", vv...].
Những
hàng sau đây, chắc sẽ làm phật lòng một số người.
Nguyễn
Ánh nhờ quân Xiêm giúp, ở trên đất Nam Hà từ tháng 6 (âm
lịch) [1784] đến tháng 12 (âm lịch) [1785] thì bị Nguyễn
Huệ đánh tan, vậy quân Xiêm chỉ ở trên đất Nam Hà khoảng
chừng 6 tháng, thế mà mang tiếng " Cõng Rắn Cắn Gà Nhà ",
còn Tậy Sơn, trong đó có Nguyễn Huệ, đã nhờ tuị Hải
Tặc Tàu đánh quân nhà Lê, Chúa Trịnh, Chúa Nguyễn, trên
hai mười mấy năm trời, thì không " Cõng Rắn Cắn Gà Nhà
" à ?
Tuy
vua Quang Trung có dùng Hải Tặc Tàu để đánh quân Thanh [Xem
D. Murray " Pirates of the South China Coast 1790-1810 ", in năm 1987,
Nguyễn Duy Chính " Vai trò của Hải Phỉ trong chiến
thắng Kỷ Dậu ", Lê Nguyễn " Quan hệ giữa nhà Tây Sơn với
hải tặc Trung Hoa. TríThức VN ", G. Dutton " Mối quan hệ giữa
Tây Sơn và Hải Tặc Trung Hoa ", vv...], nhưng cũng
chỉ trong một tuần hay mười ngày là cùng, không như trên
hai mười năm để đánh quân nhà Nguyễn (Gà Nhà). Sau đây
là một số tên của những tướng cướp Tề Ngôi, mà nhà
Tây Sơn đã dựa vào (có lợi cho cả hai bên) : Ngoài Lý Tài,
Tập Đình, còn có hàng chục " Đô Đốc, Đại Đô Đốc "
:
Đô
Đốc Bảo Đức Hầu Trần Thiên Bảo (陳添保), Đại Đô
Đốc Đông Hải Vương Mạc Quan Phù (莫觀扶), Đô Đốc Lương
Văn Canh (梁文庚), Đô Đốc Phàn Văn Tài (樊文才), Đô Đốc
Phùng Liên Quý (馮連貴), Đại Tư Mã Trịnh Thất (鄭七, Trịnh
Diệu Hoàng), Đô Đốc Kim Ngọc Hầu Trịnh Duy Phong (鄭維豐),
Đại Đô Đốc Bình Ba Vương Ô Thạch Nhị (烏石二,
Mạch Hữu Kim), Đô Đốc Lương Bảo (梁寶), Đô Đốc Hiệp
Đức Hầu Lương Quý Hưng (梁貴興), Đô Đốc Trịnh Lão Đồng
(鄭流唐, Trịnh Lưu Đường), Đại Đô Đốc Bình Ba Vương
Đàm A Chiêu (譚阿招), Đô Đốc Trịnh Nhất (鄭一, Trịnh
Văn Hiển hay Trịnh Diệu Nhất), ), Đô Đốc Tiến Lộc Hầu
Luân Quý Lợi (倫貴利), Đô Đốc Phạm Quang Hỉ (范光喜),
Trịnh Nhất Tẩu (鄭一嫂), Trương Bảo Tử (張保仔), vv...,
với 7 vạn quân (70 000) và trên 3 000 chiếc tàu lớn nhỏ.
[Xem D. Murray " Pirates of the South China Coast 1790-1810 "; Nguyễn
Duy Chính, trong bài viết " Việt Thanh Chiến dịch và Quang Trung
ra Bắc "].
Sau
nầy Nguyễn Ánh cũng có thu phục những người Tàu " Thiên
Điạ Hội " có ý " Phò Minh, Phản Thanh " đã trở thành Tề
Ngôi, mà sử gia nhà Nguyễn gọi là " Tàu Ô ", gồm có khoảng
10 người do Hà Hỷ Văn (何喜文) đứng đầu xin theo giúp
Nguyễn Ánh. Họ gồm, ngoài Hà Hỷ Văn ra, có Lương Văn Anh
(梁文英), Chu Viễn Quyền (周遠權), Hoàng Trung Toàn (黃忠全
hay Hoàng Trung Đông 黄忠東), vv... Họ được đặt dưới
quyền của các tướng Nguyễn Văn Trương và Nguyễn Văn Thành.
[Xem Liệt Truyện, Huế 1993, tập 2, trang 471].
Tôi
là người Việt, rất hãnh diện và vui mừng khi biết có một
người Việt, vua Quang Trung, đánh đuổi quân Thanh. Vua Quang
Trung là một tướng tài ba. Nhưng trận Kỷ Dậu (1789) là một
trận nhỏ và đánh bất ngờ, lúc quân Tàu ăn Tết. Ngày Tết,
không những là một ngày lễ hội lớn, mà còn là một ngày
lễ về Tâm Linh, dối với người Tàu và người Việt chúng
ta, dù rằng " quân bất yếm trá ", và cũng vì quân Thanh, ngạo
mạn, tự cao, tự đại, nên bị vua Quang Trung đánh cho tan
tành. Nếu so với các trận đánh trực diện với quân Mông
Cổ của Đức Trần Hưng Đạo, trong ba lần liên tiếp (1258,
1285, 1288), thì trận Kỷ Dậu chỉ là một trận nhỏ, và quân
Thanh đã bị đánh bất ngờ.
Lúc
còn nhỏ, tôi có khoảng 7, 8 tuổi (1947,1948), đi chơi với
tụi con nít trong xóm thì hát vang một bài " dân ca ? ". Bài
khá dài, tôi chỉ còn nhớ hai câu chót : "...Toa-Đô (Togatu)
nằm liền tại đó. Thoát-Hoan (Toyan) chạy ngay về Tàu ". Thế
là bọn con nít chúng tôi rất hãnh diện và cười oà vang
cả xóm.
Trong
trận Kỷ Dậu, cụ Trần Trọng Kim [Việt Nam Sử Lược] ghi
Tôn Sĩ Nghị đem 20 vạn quân (200 000) qua giúp nhà Lê. Có người
vì quá tôn sùng vua Quang Trung đã tự ý thổi phồng lên mà
không cho tài liệu lịch sử, đến 30 vạn (300 000), hay đến
50 vạn (500 000, nửa triệu, khoảng).
Theo
Nguyễn Duy Chính thì có khoảng 30 000 quân Thanh chính quy ở
miền Bắc Việt-Nam [Xem BBC Vietnamese.com. Nguyễn Duy Chính],
hay 28 500 quân chính quy [Nguyễn Duy Chính. " Việt-Thanh Chiến
Dịch "], thôi cứ cho đi 30 000 quân Thanh (không kể dân phu
và mã phu. Nếu kể cả dân phu, mã phu và lính chính quy thì
con số, có thể lên đến khoảng 100 000 người).
Theo
tài liệu tôi lấy ở Internet " Table 6 : Urban population of Hanoi
and Haiphong "
[https://www.ier.hit-u.ac.jp/COE/Japanese/discussionpapers/DP98.7/6.htm]cho
tổng số dân cư ở Hà-Nội năm 1900 là 103 000 người trẻ,
già, lớn, bé và năm 1910 là 114 000, năm 1920 là 81 000 (?), năm
1930 là 135 000, năm 1940 là 149 000 và năm 1950 là 238 000 người,
và theo Đàm Ly, thì năm 1918, Hà Nội có 70 000 người và năm
1928 là 140 000 người. Chúng ta cũng biết sự tăng trưởng
dân số không theo luật tăng trưởng cấp số cộng mà theo
luật tăng trưởng đường cong của hàm số mũ (fonction
exponentielle) [do Google dịch] (4bis), nhất là ở
các thành phố lớn. Dựa vào bảng " Table 6..." ở trên, tôi
tìm ra con số khoảng 19 510 người, vào những năm 1789 (1790)
tại Thăng Long, thôi cho đi 20 000 người, và rất có thể là
đúng. Nếu không thì lấy đất đâu ra ở Thăng Long để cho
200 000 quân Thanh, hay 300 000 hay 500 000 để mà đứng, tuy quân
Thanh đã phân tán quân xung quanh Thăng Long, nhưng theo các "
sử sách " trên thì một nửa quân Thanh đóng ở Thăng Long,
nghĩa là 100 000 hay 150 000 hay 250 000 quân. Thế mà các " sử
sách " lại cho quân Thanh thong dong đi chợ mua bán!
(4bis) [Theo
các số cho bởi " Table 6: Urban population of Hanoi and Haiphong ",
tôi đã tìm được một hàm số mũ hồi quy (régression
exponentielle) [do Google dịch] có dạng f(x) = aebx = a*exp(bx), và
đã tìm ra a = 22,5537; b = 0,1450. Hàm số hồi quy có được
: f(x) = 22,5537e0,145x = 22,5537*exp(0,145x), với hệ số tương
quan (coefficient de corrélation) [do Google dịch] r = 0,9179. Đồ
thị của hàm số nầy đi qua gần những diểm mà " Table 6:
Urban population of Hanoi and Haiphong " cho. Năm 1800, theo hàm số
trên, Thăng Long có khoảng 22 554 người, và năm 1790 có khoảng
19 510 người, thôi cho đi khoảng 20 000 người như trên. Nguyễn
Duy Chính cũng có nói trong " Việt-Thanh Chiến Dịch " là Thăng
Long vào những năm 1789 rất hoang tàn vì chiến tranh liên tiếp.
Dân phải tòng quân cho Tây Sơn, cho nhà Lê, hay bỏ trốn].
Trong
Lịch Sử Việt Nam, không chỉ có vua Quang Trung đánh đuổi
quân Tàu, mà còn có hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê
Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn (Trần Hưng Đạo),
Lê Lợi, đã đánh đuổi quân Tàu mà không cần nhờ người
ngoại quốc như Hải Tặc Trung Hoa!
Tôi
nói như vậy, không có nghiã là phủ nhận tài làm tướng
của vua Quang Trung, và công của vua Quang Trung đại phá quân
Thanh, nhưng nói đến một nhân vật lịch sử thì phải có
con mắt lịch sử, phải nói cả hai mặt tốt, xấu. Lê Chiêu
Thống, Nguyễn Huệ, Nguyễn Ánh đều là những con người,
mà đã là con người thì không thế nào tuyệt đối hoàn hảo
hết, nếu không, họ là những vị thần thánh rồi.
Trận
Kỷ Dậu đã làm chói lọi tên tuổi của vua Quang Trung, để
rồi nhà thơ Vũ Hoàng Chương, và còn một số đông " sử
gia " khác, vì quá tôn sùng nhà vua, đã cho vua Quang Trung, trong
trận Đống Đa là vị tướng đứng đầu của Lịch Sử,
với câu thơ :
...
"
Muôn chiến công một chiến công dồn lại,
Một
tấm lòng muôn vạn tấm lòng mang. "
....
Vũ
Hoàng Chương lấy " Tâm Tình " để làm thơ là một chuyện
thường tình, còn các " sử gia chuyên nghiệp " cũng lấy "
Tâm Tình " để viết Sử, thì làm chúng ta phải suy nghĩ !
II
- Nhờ quân Pháp giúp.
Trương
Phúc Loan làm nhiều điều tồi bại, sai trái với lỏng dân,
nên Tây Sơn gian xảo, lúc đầu phao tin là " Phò Nguyễn, Diệt
Quốc Phó ", nên được nhân dân Nam Hà; mến nhà Nguyễn, nghe
theo, nhưng khi thế lực khá lớn, thay vì " Phò Nguyễn ", thì
tìm đủ mọi cách tiêu diệt sạch sẽ dòng họ Nguyễn-Phước,
mà các Chúa đã gần 200 năm, ròng rả ra công mở rộng gần
một nửa nước Việt Nam trù phú, " rừng vàng, biển bạc
". Tây Sơn tự xưng làm vua để hưởng những công quả to
lớn của các Chúa Nguyễn. Sau nầy có vài " sử gia " cho rằng
đó là cuộc " cách mạng nông dân nổi dậy " do Tây Sơn lãnh
đạo. Chuyện nầy là sai. Quân lính Tây Sơn bị áp bức tòng
quân, và quân Tây Sơn đi đến đâu thì dân và nông dân chạy
tránh đến đó. [Xem : " Nhìn lại phong trào Tây Sơn "
của George Dutton trong bài viết " Rethinking the Tây Sơn Era "
; " Nghĩ lại về thời Tây Sơn " theo BBC đăng trên " Hồn
Việt ", Internet : https://honvietsu.wordpress.com/2008/08/20/skymemberpost-9/,
hay " Ý kiến nói Tây Sơn 'giải phóng nông dân' chỉ là huyền
thoại ", 08/02/2019. Internet : https://www.bbc.com/vietnamese/culture-social-46966079,
hay Lê Nguyễn, Trì Thức VN, 17/10/2021 " Tây Sơn có phải là
" phong trào nông dân " không ? Internet : https://trithucvn.org/van-hoa/tay-son-co-phai-la-phong-trao-nong-dan-khong.html].
Cũng
vì sự gian xảo đó, mà một số tướng lúc trước hưởng
ứng lời kêu gọi " Phò Nguyễn ", đã theo Tây Sơn, nhưng sau
vài năm lại về theo Nguyễn Ánh, như Tướng Nguyễn Văn Trương,
Tướng Nguyễn Huỳnh Đức (và có hàng chục tướng khác,
mà tôi không có thì giờ tra cứu thêm).
Vì
thân cô, thế ít (quân ít, tướng ít, lương thực ít), trong
khi Tây Sơn có quân, có tướng, có đồng minh là Hải Tặc
biển Đông và đồng bào Thượng Du (lúc đó, các nước ở
thượng du còn độc lập, chưa thuộc về Hoàng Triều Cưong
Thổ), nên bị Tây Sơn đánh đưổi tơi bời, lần nầy đến
lần khác. Nguyễn Ánh đang gánh nặng trên vai tiền đồ to
lớn của Tổ Tiên để lại, và để " dẹp giặc yên dân
" [Xem Thực Lục, tập 1, trang 295],đành phải
sai người đi tìm Pigneau de Béhaine để thương lượng việc
nhờ Pháp giúp [tháng 8 năm 1783], vì biết
khoa học, vũ khí, quân dụng Phương Tây hơn xa khoa học, vũ
khí, quân dụng ở Á Châu nhiều, và vì Tây Sơn có Đồng
Minh (Hải Tặc Tàu và người Thượng Du), làm cho dân Nam Hà
quá lo âu, sợ sệt.
Pigneau
de Béhaine là một người Pháp và là giám mục đạo Ki-Tô
La Mã. Ông ta rất có tiếng, có quyền với giới bổn đạo
và tu sĩ của đạo nầy, trong phạm vi cai quản đạo của
ông. Ngoài ra ông cũng giao thiệp lớn với các nhà có thẩm
quyền ở Pondichéry, Xiêm, Chân Lạp, Đại Nam, nhất là ở
Nam Hà, Lữ Tống, Ma Cao... Trong khi thương lượng về chuyện
nhờ Pháp giúp, Nguyễn Ánh giao cho ông Quốc Ấn và cho ông
toàn quyền thay mặt mình để đàm phán với Pháp, nhưng ông
ta lại bắt bí Nguyễn Ánh và phu nhân (sau nầy là Thừa Thiên
Cao Hoàng Hậu) phải đưa người con đầu lòng của Nguyễn
Ánh là Thế Tử Nguyễn-Phước Cảnh [con sẽ được
kế vị Vua (Vương) được gọi là Thế Tử, con sẽ được
kế vị Hoàng Đế được gọi là Thái Tử], mới
có 3 tuổi, phải đi theo làm con tin. Nhưng Pigneau cứ loanh quanh
lẩn quẩn trong vùng, chưa chụi đi. Khi Nguyễn Ánh biết nhờ
quân Xiêm không có hiệu quả, phải sai người đi thúc dục
mấy lần, khi đó Pigneau mới đưa phái đoàn đi và đến Pondichéry
vào
cuối tháng 2 năm 1785, Nguyễn-Phước Cảnh đã 5 tuôi, và mãi
đến tháng 7 năm 1786, Thế Tử Cảnh đã 6 tuổi, ông mới
đưa sang Pháp. Cuộc đi từ Nam Hà sang Pháp, và từ Pháp về
lại Nam Hà là khoảng 6 năm. Pigneau trở về tay không với
Thế Tử Cảnh cùng những người hầu cận, đến Cần Giờ
vào tháng 7 năm 1789, Thế Tử đã 9 tuổi. Tất nhiên các chi
phí di chuyển, ăn, ở, đi, về, từ Nam Hà đến Paris, và ngược
lại, trong 6 năm, đều do Nguyễn Ánh trang trải hết.[Xem
Nguyễn Quốc Trị " Nguyễn Văn Tường và cuộc chiến chống
đô hộ Pháp của nhà Nguyễn ", in năm 2013, tập I, trang 374].
Pigneau còn nhân danh Nguyễn Ánh (để Nguyễn Ánh trả) mượn
thêm 30 000 livres [có lẽ là livre Tournois, tương đương
với 5 600 đồng (piastre Tây Ban Nha ?) và bằng 11 200 quan thời
bấy giờ. Xem Maybon " Histoire Moderne du Pays d’Annam, trang 267.]
của
Pháp, cho ra vẽ ta đây, đã đỡ đầu cho Thế Tử nước Nam
Hà giàu có, " Nhất nhật nhất yến, tam nhật đại yến "
với giới thượng lưu ở Paris.
1a)
Hiệp Ước Versailles 1787.
Một
hiệp ước quá sức bất công cho Nam Hà, mà đến ngày nay
(năm 2022), quốc tế và Pháp đều công nhận là " Traité inégal
" [Xem " Traités inégaux ", trên Wikipedia. Từ đó mở ra
" Traités imposés au Viêtnam ", https://fr.wikipedia.org/wiki/Trait%C3%A9s_in%C3%A9gaux#Trait%C3%A9s_impos%C3%A9s_au_Vietnam.
Traité
de Versailles 1787. (Traités inégaux : Hiệp Ước không cân bằng)].
Tôi xin tóm tắt Hiệp Ước Versailles, có tất cả 10 điều
khoản, ký kết giữa Bá Tước de Montmorin, đại diện vua Louis
XVI và P.-J.-G, giám mục của thành phố Adran (Pierre Joseph Georges,
Evêque d’Adran), đại diện toàn quyền Nguyễn Ánh (Nguyễn
Vương), vào ngày 28 tháng 11 năm 1787, như sau :
-
Phía Pháp : Pháp sẽ viện trợ, không hoàn lại, 4 tiểu hạm
3 buồm (frégate) với một đoàn quân gồm có 1200 bộ binh,
200 quân pháo binh và 250 quân da đen (cafres). Tàu chiến và quân
lính được trang bị vũ khí, đạn dược tương ứng.
-
Phía Nam Hà :
a)
Nam Hà phải nhường lại cho Pháp sở hữu tuyệt đối và
chủ quyền (propriété absolue et souveraineté) đảo Hoï-Nan (5)
trước cảng Đà Nẵng (Touron) và Pháp có thể thành lập những
cơ sở theo ý muốn, trên thành phố Đà Nẵng.
b)
Nam Hà phải nhường lại cho Pháp sở hữu và chủ quyền Côn
Đảo (Poulo-Condore).
c)
Người Pháp có quyền đi lại, buôn bán, nhập cảng các hàng
hóa thoải mái, trừ những món hàng bị pháp luật cấm. Họ
có quyền xuất cảng hàng hóa qua các nước lân cận, phải
trả thuế quan như người bản xứ, nhưng không được cao
hơn.
d)
Không cho phép một tàu buôn hay tàu chiến của một nước
khác, ngoài tàu của Pháp cập bến.
e)
Nam Hà phải bảo toàn tánh mạng và tài sản của người Pháp.
f)
Nam Hà phải cung cấp thủy thủ, tàu bè, lương thực và quân
nhu thiết yếu cho Pháp khi Pháp có chiến tranh với một nước
khác ở trong khu vực không ngoài các đảo Moluques, Sonde và
eo biển Malacca.
[Xem Taboulet " La Geste Française [hỗn xược]
en Indochine ", in năm 1955. Trang 186 đến 188].
(5) Tôi không
biết đảo Hoï-Nan là đảo nào. Nhìn vào bản đồ Việt Nam
có quần đảo Cù Lao Chàm trước mặt cảng Hội An, nhưng
quá xa với cảng Đà Nẵng. Phía Bắc cảng Đà Nẵng có đảo
Sơn Chà gần Đà Nẵng hơn nhiều. Vậy đảo Hoï-Nan là đảo
nào, nói trong Hiệp Ước Versailles ?
Thật
là một Hiệp Ước quá bất lợi cho Nam Hà, do Pigneau tự ý,
nhân danh Nguyễn Vương, ký kết (do Nguyễn Ánh đã trao quốc
ấn, và cho Pigneau toàn quyền).
Cũng
may nhờ Hồn Thiêng của Đất Nước và Anh Linh của Tổ Tiên
chúng ta, qua các triều đại, mà Hiệp Ước Versailles đã bị
Louis XVI bãi bỏ và Nguyễn Ánh đã hú vía !
Trong
những năm cuối đời Louis XVI, quỹ quốc gia bị hao hụt nhiều
và có những dấu hiệu về sự bất ổn trong xã hội Pháp
để rồi đưa đến cuộc Cách Mạng 1789, cùng mật thám của
Bá Tước Conway, Toàn Quyền các cơ sở của Pháp, tại Ấn,
đặt tại Pondichéry, đưa tin cho nhà vua là quân Tây Sơn đang
mạnh lắm (Nguyễn Huệ phá tan quân Xiêm và quân Thanh). Louis
XVI mới gởi hai lệnh cho Conway, đề ngày 02/12/1787 :
-
Một lệnh " trắng " (ostensible : dễ thấy), giao cho Conway điều
khiển cuộc viễn chinh, để phô trương thanh thế.
-
Một lệnh " đen " (secrète : mật), cho Conway toàn quyền không
thi hành hiệp ước Versailles, hay trì hoãn nó.
-
Một lệnh " mật " : Vào tháng 11 năm 1788, Louis XVI chính thức
bãi bỏ hiệp ước Versailles. (Phúc trình của de La Luzerne,
Bộ Trưởng Hải Quân và Hàng Hải, đệ lên Louis XVI, xin bãi
bỏ Hiệp Uớc Versailles, và được Louis XVI, chính tay phê "
Chuẩn y " (Approuvé) trên tờ phúc trình đó). [Xem Launay
" Histoire de la Mission de Cochinchine 1658 – 1823, tập III, in năm
2000, trang 197, 198].
Pigneau
và Nguyễn Ánh không biết lệnh " Mật " nầy. Do đó gây ra
sự xung đột, cãi vã giữa Pigneau và Conway, vì theo Pigneau,
Conway kiếm cớ nầy, cớ khác để làm chậm trể việc áp
dụng Hiệp Ước Versailles. Pigneau chỉ biết tin bãi bỏ hiệp
ước nầy, do thơ của de La Luzerne viết cho ông ta, ngày 16/04/1789.
[Xem
Launay, sđd, tập III, trang 199].
1b)
Thơ cám ơn của Nguyễn Ánh.
Nguyễn
Ánh không biết cả hai lệnh mà Louis XVI gởi cho Conway. Pigneau
cũng giấu Nguyễn Ánh thư của de La Luzerne gởi cho ông ta (6).
Pigneau chỉ đổ lỗi cho Conway không thi hành Hiệp Ước mà
thôi. Khi Nam Hà biết tin Conway làm " khó dễ ", thì Pigneau rất
mất mặt với Triều Đình Nam Hà, dân chúng thì lo âu, duy
chỉ có Nguyễn Ánh tỏ ra rất bình tĩnh và vui mừng nữa
là khác, vì Nguyễn Ánh thấy cái hiệp ước đó quá bất
lợi cho Nam Hà và lúc đó Nguyễn Ánh đã bình định được
toàn cõi Nam Hà[Xem Launay, sđd, " Thơ của Pigneau viết
cho Létondal ", trang 210], (rất có thể, thám tử
của Tây Sơn ở Gia Định cho Quang Trung biết là Conway không
thi hành hiệp ước. [Xem Launay, sđd, trang 294]).
(6) : Sau nầy
các vị vua kế vị Nguyễn Ánh, như vua Minh-Mạng, vua Thiệu-Trị,
vua Tự-Đức cũng không biết Hiệp Ước Versailles đã bị
chính Louis XVI bãi bỏ, mà chỉ biết là Nguyễn Ánh không nhận
một viên đạn, một khẩu súng, một chiếc tàu, một người
lính nào của Louis XVI viên trợ cho.
Nguyễn
Ánh đã viết thơ cám ơn Louis XVI, như sau [Tôi dịch
bài tiếng Pháp của de Guignes dịch từ chữ Hán] :
"
Quả nhân là Nguyễn Ánh, Quốc Vương nước Nam Hà, kính tin
cho đại danh, đại cường, Quốc Vương nước Pháp...
...
Còn về chuyện quả nhân nhờ Quốc Vương giúp, dầu rằng
quả nhân không nhận được, nhưng quả nhân không lấy làm
phiền, vì quả nhân biết không phải ý của Quốc Vương,
mà do lỗi của viên Toàn Quyền của Quốc Vương ở Ấn Độ.
Quả
nhân xin gởi đến Quốc Vương những tâm tình mãnh liệt biết
ơn của quả nhân đối với lòng nhân từ của Quốc Vương
đã trao lại thế tử, con của quả nhân, sự đoàn tụ cha
con, như người ta nói, là thả lại cá xuống nước, khi cá
bị mắc cạn trên bờ. Xa cách nhau, dù cho có bao la đi nữa,
cũng không làm quả nhân quên đại ân ấy.
Về
lực lượng quân sự của quả nhân hiện nay, quả nhân có
một quân lực đáng kể, bộ binh cũng như hải quân, và quả
nhân có đủ quân nhu, đạn dược cùng luơng thực cần thiết
cho chiến dịch mà quả nhân đang dự kiến. Quả nhân không
dám lộ liễu xin Quốc Vương giúp quân "...
Năm
Cảnh Hưng thứ 50, ngày 17, tuần trăng thứ 12 ". [Xem
Launay, sđd, trang 205, 206. Theo sách của Launay là ngày 31/01/1790,
tức là ngày 17 tháng Chạp năm Kỷ-Dậu. Vua Lê Hiển Tông
(1740-1786), niên hiệu Cảnh-Hưng].
Nguyễn
Vĩnh-Tráng.
109
102 022 nvt*ttl*
Xin
xem tiếp Phần II.
Có
khoảng 65 Tài Liệu tham khảo. Xin xem ở cuối bài viết.
Lính
quân nhà Thanh
Nguồn
Alamyimage.fr, Wikipedia
Hải
Tặc Biển Đông, thế kỷ thứ XIX
Nguồn
Alamyimage.fr, Wikipedia
|