| (Tiếp
theo Phần I)
1b) Thơ cám ơn
của Nguyễn Ánh.
Về lực lượng
quân sự của quả nhân hiện nay, quả nhân có một quân lực
đáng kể, bộ binh cũng như hải quân, và quả nhân có đủ
quân nhu đạn dược cùng luơng thực cần thiết cho chiến
dịch mà quả nhân đang dự kiến. Quả nhân không dám lộ
liễu xin Quốc Vương giúp quân...
Năm Cảnh Hưng thứ
50, ngày 17, tuần trăng thứ 12".
[Xem Launay, sđd,
trang 205, 206. Theo sách của Launay là ngày 31/01/1790, tức là
ngày 17 tháng Chạp năm Kỷ-Dậu. Vua Lê Hiển Tông (1740-1786),
niên hiệu Cảnh-Hưng].
Nguyên văn:
"Moi Nguyen-Anh, roi
de la Cochinchine, ai l’honneur de faire savoir à Très haut et très
puissant prince, le roi de France, ...
... Je n’exprimerai
jamais les vifs sentiments de reconnaissance dont je suis pénétré, pour
la bonté qu’a eue Votre Majesté de me renvoyer le prince mon fils,
et en réunissant le père et l’enfant, d’avoir, comme on dit, remis
dans l’eau un poisson qui en était sorti. L’éloignement, quelque
immense qu’il puisse être, ne pourra jamais me faire oublier de si grands
bienfaits.
Quant à mes forces
présentes, j’ai une armée assez considérable tant de terre que de
mer, et j’ai même les munitions de guerre et de bouche qui peuvent m’être
nécessaires pour l’opération qui me reste à faire.
Je n’aurai plus l’indiscrétion
de demander les troupes de Votre Majesté, qui dans un voyage aussi long
ne pourraient que souffrir infiniment des obstacles qu’on y trouve ordinairement...
La 50e année de Canh-Hung,
le 17e jour de la 12e lune, c’est-à-dire le 31 janvier 1790".
[Xem Launay, sđd,
trang 205, 206].
Trong sách Launay,
sđd, có chụp hình cái thơ bằng chữ Hán của Nguyễn Ánh
gởi cho Louis XVI (trang 204), nhưng chữ quá nhỏ, nên thiếu
các nét làm tôi không nhận ra, để tra các từ điển. Bài
chữ Hán gồm có khoảng 450 chữ, còn bài chữ Pháp do de Guignes
dịch, có khoảng 4000 chữ (trang 205 và 206), nghĩa là khoảng
9 lần nhiều hơn. Chắc văn chữ Hán quá cô đọng, nên dịch
ra tiếng Pháp phải dài dòng, hay de Guignes thổi phồng, thêm
vào những chuyện mà không có trong thơ chữ Hán.
Louis-Joseph de Guignes,
một nhân viên hay một điệp viên (agent) của tòa Lãnh Sự
Pháp tại Quảng Đông, năm 1783, biết về Việt Nam, do sự
đồn đại, hay qua những tin tức do Olivier de Puymanel và Le
Brun kể lại. Xin xem bài "Jean-Marie Dayot qua các bài viết",
phần 2, của tôi cho đăng trên "Chim Việt Cành Nam" hay trên
"Trí Thức VN". Mấy chữ đầu của bản chữ Hán mà tôi nhận
dạng được và đã tra từ điển, thì được như sau:?南國王阮??
大西貴國王御覧 (? Nam Quốc Vương Nguyễn?? Đại Tây Quý
Quốc Vương Ngự Lãm), và cuối thơ đề ngày 景興五十年十月二十二日
(Cảnh Hưng ngũ thập niên, thập nguyệt, nhị thập nhị nhật.
Ngày 22 tháng 10 năm Cảnh Hưng thứ 50, tức là ngày 28/11/1790).
[1790, Canh-Tuất là năm Cảnh Hưng thứ 50].
Qua thơ của Nguyễn
Ánh trên, chúng ta nhận rõ hai cách cám ơn Louis XVI của Nguyễn
Ánh:
Một cách cám ơn
"ngoại giao, ngoài miệng" về việc Louis XVI giúp quân. Nguyễn
Ánh biết cái Hiệp Ước Versailles đó quá bất lợi cho Nam
Hà. Khi được biết Conway không thi hành cái hiệp ước đó,
thì Nguyễn Ánh đã nhẹ nhõm, thở phào, vì chính Pigneau, lấy
danh nghĩa mình mà ký kết, chứ không phải ý của chính Nguyễn
Ánh.
Một cách cám ơn
thành thật, chân tình là Louis XVI đã trả "con tin" (Thế Tử
Cảnh) lại cho Nguyễn Ánh. Chúng ta, ai cũng biết, phong tục
Á Châu, nhất là ở Trung Quốc và Việt Nam, một khi "bắt
con tin" là bắt suốt đời, như Nguyễn Hải 阮海 (con thứ
5 của Nguyễn Hoàng) và các cháu nội như Nguyễn Hắc 阮潶,Nguyễn
Vịnh 阮泳 (con trưởng và con thứ của Nguyễn Hán 阮漢,
Nguyễn Hán là con thứ hai của Nguyễn Hoàng), Nguyễn Nghiêm Nguyễn
Long 阮瀧., Nguyễn Cương, Nguyễn Chất (các con của Nguyễn
Hải) [Xem "Hoàng Tộc Lược Biên", Tôn Thất Cổn, 1943, trang
12] bị Trịnh Tùng bắt làm con tin, tuy có cho làm quan và phong
tước Quận Công, nhưng phải sống cả đời ở ngoài Bắc
rồi chết già ở đó. Cho nên Nguyễn Ánh rất xúc động,
hạnh phúc, vui mừng cực độ khi nhận được lại con mình,
Thế Tử Cảnh.
Chuyện thật chính
đáng, trước là con của mình, sau là một thế tử, người
mà sau nầy thế mình để quản lý Nam Hà, hay cả nước Việt
Nam, nếu Nguyễn Ánh thống nhất được cả Đất Nước. Nhưng
người Tây Phương không có phong tục đó, một phong tục "Hủ
Lậu" đối với chúng ta trong thế kỷ thứ 21, còn ngày xưa,
phong tục đó đã in vào lòng người cả mấy ngàn năm, như
tại Trung Quốc [Xem "Đông Châu Liệt Truyện"].
Thế
Tử Nguyễn-Phước Cảnh do một họa sĩ vẽ tại Paris. (Tranh:
Maupérin, Paris Foreign Missions Society, Wikipedia, CC BY-SA 3.0)
Hiệp Ước Versailles
ký ngày 28/11/1787 đã được Louis XVI chính thức hủy bỏ ngày
vào tháng 11/1788, thế mà Pháp vẫn muối mặt, gian xảo, sau
nầy đã nhiều lần đòi áp dụng cái hiệp ước đó cho được,
như Louis XVIII, sai Achille de Kergariou, hạm trưởng chiếc Cybèle
sang gặp Nguyễn Ánh (lúc nầy đã là Vua Gia Long), năm 1817,
để đòi thi hành cái hiệp uớc đó. Tất nhiên, Nguyễn Ánh
thẳng thừng từ chối và đuổi Kergariou về. [Xem Etienne Võ
Đức Hanh, Persée, "Le traité de Versailles du 28 Novembre 1787 entre
Louis XVI et Nguyễn Phước Ánh". 1969, trang 633, 634].
2) Lợi dụng
người Pháp tình nguyện giúp Nguyễn Ánh
Vì để hù dọa
Tây Sơn, để an lòng dân (có ý nói là Hiệp Ước Versailles
được thi hành), và có thể dễ dàng có ngoại giao buôn bán
với các nước Tây Phương, nên Nguyễn Ánh lợi dụng Pigneau
cùng những người phiêu lưu Pháp, ít học (họ biết các ngoại
ngữ như Pháp, Anh, Bồ, Ý ngữ...) đang muốn làm giàu, cho
nhập vào quân đội Nam Hà.
Henri Cosserat [Bulletin
des Amis du Vieux Hué-BAVH, tập 3, năm 1917] cho tất cả có 19
người. Léopold Cadière [BAVH, tập 1, năm 1920] cho tất cả có
17 người. Hai ông nầy nghiên cứu rất kỹ lưỡng, nếu có
một trẻ em hay một cô gái đã "phục vụ" cho Nguyễn Ánh,
thì không thoát khỏi sự tra cứu của hai tác giả thực dân
nầy (Nguyên văn của Cadière, BAVH, 1920, tập1: Il n’était pas
inutile, toutefois, de recueillir les traces, si légères soient elles,
que les Français et autres Européens venus au service de l’Annam, à
une des périodes les plus critiques de son histoire, ont laissé dans
la tradition et dans les ouvrages historiques annamites. Không phải
là vô ích khi thu thập các dấu vết, dù cho, chúng có thể
nhỏ đến mức nào đi nữa, mà người Pháp và những người
châu Âu khác đến phục vụ Annam, vào một trong những giai
đoạn nguy kịch nhất trong lịch sử của nó, đã để lại
trong truyền thống và trong các tác phẩm lịch sử của Annam.).
Phần đông những
người nầy là lính tình nguyện binh ba, binh nhì, binh nhất
[Lúc trước, trong quân đội của Pháp có binh ba], với trình
độ học vấn khoảng Tiểu Học ngày nay, bị Hải Quân Pháp
đào thải, hay bị quân Anh bắt, rồi trốn đi, hay đào ngũ,
để phiêu lưu, đi khắp vùng Đông Nam Á, với ý đồ làm
giàu càng sớm càng tốt. Cũng vì thế mà nhiều người Pháp
ở lại Nam Hà chỉ một, hai năm, vì cho là lương bổng ít,
bởi Nguyễn Ánh keo kiệt. Cũng nên biết rằng lương của
một người Pháp, phục vụ Nguyễn Ánh, lúc bấy giờ, lên
đến 150 đồng (piastre) mỗi tháng, nghĩa là 300 quan, mỗi tháng
[Xem Nguyễn Quốc Trị, tập 1, in năm 2016, trang 384] chưa kể
gạo phát cho vợ, con, người giúp việc và lính canh [Xem Maybon
"La Relation sur le Tonkin et la Cochinchine de Mr de La Bissachère",
in năm 1920, trang 95], trong khi một đại thần (cấp Thượng
Thư) của Nguyễn Ánh chỉ có lương 30 quan và 20 phương gạo
mỗi tháng [Xem Thực Lục, tập 1, tháng 12 (âm lịch) năm 1803,
trang 342], một phần mười lương của người Pháp!
Những người Pháp
nầy, từ sĩ quan đến binh ba, đều là những người thừa
hành, dưới trướng các tuớng của Nguyễn Ánh, như Tôn Thất
Hội, Võ Tánh, Nguyễn Huỳnh Đức, Nguyễn Văn Thành, Lê Văn
Duyệt, Nguyễn Văn-Trương... Cũng có vài người đã tham gia
các cuộc chiến khá tận tụy, can đảm, nhưng ở cấp thừa
hành, như phụ trợ, tiếp liệu, xây cất, hay lái tàu ra ngoại
quốc buôn bán cho triều đình [Xem Nguyễn Quốc Trị, tập
1, năm 2016, trang 332], nhưng không trực tiếp tham chiến, nên
không có người nào tử trận, ngoại trừ Manuel Mạn Hòe,
đến với Nguyễn Ánh rất sớm, ở Ngã Bảy, chết tại chiến
trường, vào tháng 7 năm 1793 [Xem Liệt Truyện, in năm 1993,
trang 477], trong khi có hàng trăm tướng người Việt của Nguyễn
Ánh, bỏ mình trên các chiến trường. Họ, phần đông có
chức Cai Đội hay Phó Cai Đội (tương đương với cấp Thiếu
Úy ngày nay), có tước Hầu, cũng có vài người được phong
đến Cai Cơ (tương đương với cấp Thiếu Tá ngày nay) hay
đến chức Chưởng Cơ (tương đương với cấp Đại Tá ngày
nay). Nhiệm vụ chính của họ là lái tàu đi buôn bán cho triều
đình trong vùng Đông Nam Á.
Tài liệu, phần
lớn, tôi lấy từ Léopold Cadière "Les Français au service de Gia
Long – Leurs noms, titres et appellation annamites" (Người Pháp phục
vụ Gia-Long – Họ, Tên, danh tước và Họ, Tên Việt) năm
1920, tập 1, trang 137 đến 176; Henri Cosserat "Notes biographiques
sur les Français au service de Gia-Long" (Ghi chú tiểu sử của những
người Pháp giúp Gia-Long), tập 3, năm 1917, trang 165 đến 195;
và Cadière, Cosserat BAVH, 1922, tập 1; André Salles (Cadière) tập
2; André Salles, BAVH 1923, tập 1; André Salles, BAVH, 1935, tập
2; André Salles, BAVH, 1939, tập 3. Sau đây là danh sách tên tuổi
của họ.
a) Những người
có trong danh sách của Cosserat và Cadière
1 – Pierre Pigneau
de Béhaine (1741 – 1799). Giám Mục Adran, đến Nam Hà (Hà Tiên)
năm 1775, gặp Nguyễn Ánh vào tháng 11 năm 1777, hay năm 1780
[Xem "Sử Ký Đại Nam Việt", trang 18 (in lần thứ tư, năm 1903),
còn theo Liệt Truyện là năm 1780, trang 476 (in năm 1993]. Tên
Việt là Bi-Nhu (悲柔) và Bá Đa Lộc (百多祿). Phục vụ Nguyễn
Ánh, khoảng 19 năm.
2 – Laurent Barisy
(1769 – 1802). Trình độ học vấn khoảng cuối Trung Học Đệ
Nhất cấp ngày nay (lớp 9), có học hàng hải cận duyên, có
tài viết văn, nhưng viết tiếng Pháp vẫn còn có lỗi chính
tả và văn phạm. Nguyên là đệ nhị sĩ quan (2e Lieutenant)
trên các thương thuyền cận duyên. Đến Nam Hà, năm 1793. Tên
là Ba đa di (巴哆移), Nguyễn Văn Mẫn (敏). Được ban cho
một chiến hạm nhỏ "Le Pélican" để về lại Pháp, nhưng
bị người Bồ, ganh tỵ, đánh chìm chiếc "Pélican", nên ông
không về lại Pháp được. Ông rất trung thành với Nguyễn
Ánh và Thế Tử Cảnh.
Barisy được bổ
làm thuyền trưởng chiếc tàu buôn Armide (tôi không biết tên
Việt của con tàu nầy) trong 5 năm, và sau đó làm thuyền trưởng
các chiếc tàu nhỏ (tiễu tàu) như tàu Loan-Phi...
Tàu Armide bị Trung
Tá Hải Quân Anh là Hạm Trưởng Thomas của chiếc chiến hạm
Non-Such bắt. Barisy khiếu nại không được, Nguyễn Ánh, nhân
danh Nam Hà là một nước Trung Lập, sai Gibsons và Barisy sang
Ấn Độ, gởi thơ khiếu nại cho Toàn Quyền Anh ở Ấn Độ,
phải trả lại tàu Armide lập tức, nếu không Nguyễn Ánh
sẽ có đủ phương tiện đòi bồi thường cả vốn lẫn lời
cho chiếc tàu Armide [Nguyên văn tiếng Pháp: Vous devez sentir
que si je voulais me dédommager par voie de compensation, j’en trouverais
facilement les moyens]. Trước thái độ hết sức cứng rắn của
Nguyễn Ánh, chính quyền Anh đành nhượng bộ, chiếc Armide
được trả lại về Sài Gòn, theo đúng quy luật quốc tế
[Xem Louvet, "La Cochinchine Religieuse", 1885, trang 552, 553]. Phục
vụ Nguyễn Ánh khoảng 8 năm.
3 – Théodore Le
Brun (?-?). Tình nguyện viên binh nhì (1785), binh nhất (1/1/1789)
của Hải Quân Pháp. Trình độ học vấn ở cấp Tiểu Học
ngày nay. Nhập ngũ quân của Nguyễn Ánh vào khoảng giữa tháng
6/1790 và xin từ chức, khoảng cuối năm 1791. Không biết tên
Việt. Phục vụ Nguyễn Ánh khoảng 1 năm rưỡi.
4 – Jean-Baptiste
Chaigneau (1769 – 1832). Tình nguyện viên binh nhì (1/7/1787), binh
nhất (1/12/1787) của Hải Quân Pháp. Trình độ học vấn ở
cấp Tiểu Học ngày nay. Phục vụ trong quân đội của Nguyễn
Ánh từ 1797 (?) đến 1819. Tên Việt là Nguyễn Văn Thắng (勝)
Se-Nho (車柔). Phục vụ Nguyễn Ánh và vua Minh-Mạng, khoảng
22 năm.
Jean-Baptiste
Chaigneau. (Tranh: Wikipedia, Public Domain)
5 – Jean-Marie Dayot
(? – 1809). Hải Quân Đại Úy dự bị/phụ tá thuộc địa
(Lieutenant de Vaisseau auxiliaire du cadre colonial) của Hải Quân
Pháp. Trình độ học vấn khoảng cuối Trung Học đệ nhất
cấp ngày nay. Phục vụ Nguyễn Ánh, từ năm 1790 đến năm
1795. Tên Việt là Nguyễn Văn Trí (智), Đa- Đột (多突). Phục
vụ Nguyễn Ánh khoảng 6 năm.
6 – Godefroy De Forçanz/Forçant
(?-1811). Không biết cấp bậc trong Hải Quân Pháp, hay thương
gia. Phục vụ Nguyễn Ánh khoảng 1789 (Louvet cho) đến khoảng
1811 (Cadière cho). Tên Việt là Nguyễn Văn Lăng (棱). Liệt
Truyện cho họ là Lê 黎 (Lê Văn Lăng). Phục vụ Nguyễn Ánh
khoảng 22 năm.
7 – Jean-Baptiste
Guillon (?-?). Tình nguyện viên, binh nhì (22/12/1787). Trình độ
học vấn ở cấp Tiểu Học ngày nay. Không biết tên Việt.
Phục vụ Nguyễn Ánh từ khoảng giữa năm 1789 đến 1803 (?).
Phục vụ Nguyễn Ánh khoảng 14 năm, theo Faure.
8 – Guillaume Guilloux
(?-?). Tình nguyện viên, binh nhất (từ 01/01/1784 đến 20/02/1786),
đào ngũ tại Pondichéry. Trình độ học vấn ở cấp Tiểu
Học ngày nay. Không biết tên Việt. Phục vụ Nguyễn Ánh khoảng
đầu 1790 đến giữa 1792. Phục vụ khoảng 2 năm rưỡi.
9 – Julien Girard
De L’Isle Sellé (?-?). Không rõ là quân nhân hay thương gia.
Phục vụ Nguyễn Ánh vào khoảng giữa năm 1790, rồi sau đó
bỏ đi, có lẽ vào khoảng cuối năm 1790. Không biết tên Việt,
có lẽ là Nguyễn Văn Long. Phục vụ Nguyễn Ánh khoảng nửa
năm.
10 – Manuel (không
biết họ) (?-1782). Không rõ ông là quân nhân hay thương gia,
có lẽ là một thủy thủ của Hải Quân Pháp. Trình độ học
vấn ở cấp Trung Học Đệ Nhất Cấp ngày nay. Tên Việt là
Mạn-Hòe (幔槐). Không biết ông đến phục vụ Nguyễn Ánh
lúc nào, có lẽ là cuối năm 1779, hay đầu năm 1780. Ông là
người thứ hai đã phục vụ Nguyễn Ánh sớm nhất (sau Joang/Jean).
Trong trận Ngã-Bảy (Thất-Kỳ-Giang), năm 1782, tàu của Mạn-Hòe
bị mắc cạn, ông bèn xuống hầm tàu, đốt thuốc súng cho
tàu nổ và tự sát theo tàu. Ông được phong làm Chưởng Vệ
(掌衞) (tương đương với cấp Chuẩn Tướng, ngày nay), tặng
là Chưởng Vệ, Hiệu Nghĩa Công Thần, Phụ Quốc, Thượng
Tướng Quân (Tòng Nhất Phẩm) 掌衞 效義功臣 輔國 上將軍.
Thần chủ của ông được thờ ở điện Hiển-Trung tại Sàigòn
và sau nầy phối thờ ở Hữu Công Thần ở Thế-Miếu. Ông
là người ngoại quốc (Pháp) độc nhất được phối thờ
ở đây. [Thực Lục, sđd, tập1, trang 188 và 555]. Phục vụ
Nguyễn Ánh khoảng 2 năm rưỡi.
11 – Victoir-Joseph-Cyriaque-Alexis-Olivier
De Puymanel (1768 – 1799). Tình nguyện viên binh nhì (15/12/1787),
đã học lóm về Pháo Binh trên chiếc Dryade, khi đưa Pigneau
và Thế Tử Cảnh về lại Nam Hà, đào ngũ tại Côn Đảo.
Trình độ học vấn khoảng Trung Học Đệ Nhất Cấp ngày
nay. Phục vụ Nguyễn Ánh từ 1788 đến năm 1798. Mất tại
Malacca, năm 1799, vì bệnh kiết lỵ, trong khi lái một tàu buôn
nhỏ (geolette (sic)) do Nguyễn Ánh ban cho, để buôn bán cho chính
mình. Tên Việt là O-Li-Vi (烏離爲), Nguyễn Văn (?) Tín (信).
Phục vụ Nguyễn Ánh khoảng 10 năm.
12 – Philippe Vannier
(1762-1842). Không biết cấp bậc trong Hải Quân Pháp, Vannier
tự nhận mình là "Nhân viên Hải Quân" (employé de la Marine
Militaire) [Xem Salles, BAVH, tập 2, 1935, trang 143]. Chắc trình
độ học vấn vào khoảng Trung Học Đệ Nhất Cấp. Phục
vụ Nguyễn Ánh, và vua Minh-Mạng từ 1790 đến 1825. Tên
Việt là Nguyễn Văn Chấn (震), Va-Ni-Ê [hai
chữ
là chữ Nôm]. Năm Minh Mạng thứ 5, tháng 8 [10/1824], được
phong lên một cấp Chưởng Cơ Chánh Nhị Phẩm, tương đương
với cấp Chuẩn Tướng ngày nay. Phục vụ Nguyễn Ánh và vua
Minh Mạng khoảng 35 năm.
b) Những người
chỉ có trong danh sách của Cadière
1 và 2 – Da-Ðô-Bi
(耶妬悲) và Ma-Nộ-Ê (痲怒衣). [Theo Thụy Khuê, sđd, chương
16, có tên là Santiago và Emanuel]. Là hai linh mục Y-Pha-Nho dòng
Phanxicô, ở Nam Hà, đợi tàu đi Lữ-Tống (Manila, Phi-Luật-Tân).
Nguyễn Ánh có nhờ nói giúp với Thống Đốc Y ở Lữ-Tống
bán vũ khí cho. Lúc đi sang Phi-Luật-Tân, hai ông bị cho là
thám tử của Nguyễn Ánh, nên bị Tây-Sơn bắt về Quy-Nhơn
và sau đó được thả đi.
3 – Michel Đức
Chaigneau, con đầu của J.B. Chaigneau (1803 – 1894), sanh ngày
25/06/1803 tại Huế, mất ngày 14/04/1894, thọ 91 tuổi. Biết
chữ Hán và chữ Quốc Ngữ nhiều hơn chữ Pháp. Không nằm
trong quân ngũ của Nguyễn Ánh.
4 – Gibson (?-?).
Không biết tên và cũng không biết tên Việt. Có lẽ là người
gốc Anh hay Hòa-Lan vì biết tiếng Anh. Có nằm trong quân ngũ
của Nguyễn Ánh. Không biết đã phục vụ Nguyễn Ánh bao nhiêu
tháng, bao nhiêu năm.
5 – Januario. Không
biết họ là gì, tên Việt là Nguyễn Văn (?) Phượng 鳳, có
nằm trong quân ngũ của Nguyễn Ánh. Người gốc Bồ Đào Nha.
Không biết đã phục vụ Nguyễn Ánh trong bao nhiêu tháng, bao
nhiêu năm.
c) Những người
chỉ có trong danh sách của Cosserat
1 – Félix Dayot.
Là em của J.M. Dayot. Không phục vụ Nguyễn Ánh. Rời Nam Hà
cùng người anh là Jean- Marie Dayot, năm 1795.
2 – Dominique Desperles.
Đại Úy Bác Sĩ Giải Phẫu (Chirurgien-major sur la corvette le
Pandour), đến Nam Hà năm 1788 và hành nghề tại Nam Hà. Không
biết ở lại Nam Hà bao lâu.
3 – Jean-Marie Despiau.
Bác Sĩ Giải Phẫu. Có làm ngự y. Không biết đến Nam Hà
lúc nào (có lẽ vào năm 1797 hay 1798), có lẽ mất tại Huế
năm 1824.
4 – Magon De Médine.
Hải Quân Đại Úy Thuộc Địa (Lieutenant de vaisseau du cadre
colonial). Trình độ học vấn khoảng Tú Tài. Có lẽ đã Phục
vụ Nguyễn Ánh, nhưng không lâu, khoảng một tháng.
5 – Joang (Jean).
Không biết họ, tên Việt là Gioang. Không biết đến Nam Hà
lúc nào. Có lẽ năm 1777. Là người Pháp đầu tiên làm "trái
phá" (grenades) giúp Nguyễn Ánh, Nguyễn Ánh lúc đó chỉ mới
15 tuổi, đánh Hỏa Công trận Long-Hồ, tháng 11 âm lịch năm
Đinh-Dậu, tức là tháng 12 năm 1777. Đây là trận đánh đầu
tay của Nguyễn Ánh, và Nguyễn Ánh đã thắng trận nầy. Quân
Tây-Sơn nghe tiếng nổ, nên hoảng sợ, nhảy xuống biển chết
đuối rất nhiều. Toàn thể tàu bè của Tây-Sơn đều về
tay Nguyễn Ánh hết [Xem Thực Lục, tập 1, trang 124 hay Sử
Ký Đại Nam Việt, in năm 1903, trang 19]. Sau đó ông giúp Nguyễn
Ánh đóng tàu. Không biết ông rời Nam-Hà vào khi nào.
6 – Etienne Malespine.
Tình nguyện viên Binh Ba trên chiếc Pandour. Trình độ học
vấn cấp Tiểu Học ngày nay. Đến Nam Hà năm 1788. Không biết
ngày rời khỏi Nam Hà. Không phục vụ Nguyễn Ánh. Malespine
là tay chân của Pigneau.
7 – Emmanuel Tardivet.
Tình nguyện viên binh Nhất. Trình độ học vấn cấp Tiểu
Học ngày nay. Đến Nam Hà khoảng 1788. Không phục vụ Nguyễn
Ánh. Không biết ở Nam Hà mấy ngày, mấy tháng, mấy năm.
Trong bài viết lần
đầu, tôi có nói về các chức, tước, nhiệm vụ, tên những
người vợ người Việt, tên Việt, nếu có, của các người
Pháp trên. Tuy là đã cô đọng lại, nhưng mỗi người tôi
phải dành trên một trang. Sau đó tôi thấy bài viết của
tôi quá dài, vả lại không phải là đề tài của bài viết,
nên tôi xóa đi, chỉ để lại vài hàng chính cho mỗi người.
Để làm an lòng
dân, để hù dọa Tây-Sơn và nhóm Hải Tặc, đồng minh của
Tây-Sơn, Nguyễn Ánh và quần thần của Triều Đình đã tính
rất kỹ. Tuy lương hướng của những người Pháp đã trình
ở trên, cao hơn rất nhiều đối với lương hướng của các
quan, binh của Triều Đình, nhưng trong một thời điểm nào
đó, Triều Đình cũng chỉ trả lương cho khoảng 6 hay 7 người
là nhiều, cho đi khoảng 2 000 quan mỗi tháng, so với những
lợi ích rất to lớn đã trình ở trên. Thật là Nguyễn Ánh
và quần thần đã lợi dụng tối đa nhóm người phiêu lưu
Pháp, vì lợi ích của Nam-Hà.
Cũng vì cái tước
"Hầu" (Marquis) "hờ" của những người phiêu lưu Pháp nói
trên, đã làm hoa mắt các sử gia thực dân danh tiếng như
Tiến Sĩ Charles B. Maybon, Linh Mục Léopold Cadière, Alexis Faure,
Georges Taboulet... Họ đã thần thánh hóa các người phiêu lưu
Pháp "giúp" Nguyễn Ánh. Họ chẳng những đã thổi phồng mà
còn khéo léo bịa đặt những việc làm không có thật của
những người Pháp đã trình ở trên [Xem Nguyễn Quốc Trị,
sđd]. Hành động của những nhà viết sử đã trình ở trên,
rất ư là tai hại và một số sử gia người Việt lấy đó
làm tài liệu mà viết Sử, làm cho những thế hệ người
Việt sau họ, hiểu lầm Lịch Sử Việt Nam trong nửa cuối
thế kỷ thứ 18 và đầu thế kỷ thứ 19. Cũng may, bây giờ,
nhờ có thông tin đa dạng trên Internet, và những cuốn chính
sử rất khách quan, viết bằng chữ Hán đã được dịch ra
tiếng Việt, mà các sử gia nghiêm chỉnh, đã bắt đầu viết
lại Lịch Sử của giai đoạn đó.
Có người đọc
BAVH (Đô Thành Hiếu Cổ Xã), mà những tác giả như Cadière
Léopold, Cosserat Henri, Salles André, vv... là những người Pháp
thực dân, và những người không đọc BAVH, nhưng nghe đồn,
đã cho rằng Le Brun đã xây thành Gia-Định vào năm 1795 là
sai [Xem "J-M. Dayot qua các bài viết" phần II của tôi trên Trí
Thức VN, hay Trịnh Hoài Đức "Gia-Định Thành Thông Chí", tập
6, trang 1.], hay Jean-Marie Dayot và Olivier de Puymanel đã đánh
trận "Thị Nại" năm 1792, đã đánh chìm 5 chiến hạm và khoảng
90 chiến thuyền của Tây Sơn là sai [Xem "J-M. Dayot qua các bài
viết", phần I của tôi, trên TríThức VN, có dẫn chứng đàng
hoàng], v.v.. Chấp nhận chuyện mấy người Pháp thực dân
viết trong "BAVH", là vô hình trung, phủ nhận công lao, tài
năng của các kỹ sư, thầy, thợ tiền nhân của chúng ta,
đã đóng chiến hạm, chiến thuyền, đã xây thành, đắp lũy,
đã tạo súng đại bác, thần công, v.v. vào những năm 1770-1800.
Độc giả muốn
biết Pigneau là: Richelieu (Quân Sư) của Nguyễn Ánh?; Cứu mạng
Nguyễn Ánh vào tháng 9, tháng 10 năm 1777?; Nhờ Pigneau mà Nguyễn
Ánh đã thắng Tây Sơn?; Viện trợ tài chính và quân sự cho
Nguyễn Ánh?; Pigneau đánh trận Diên Khánh, tháng 11 năm Quý
Sửu (12/1793) cùng Thế Tử Cảnh? vân vân... , thì xin xem Nguyễn
Quốc Trị, sđd, tập 1, từ trang 316 đến trang 455. Có dẫn
chứng đàng hoàng. Ở đây, tôi chỉ nói Pigneau, sau khi ở
Pháp về (sau khi ký Hiệp Ước Versailles), chỉ gặp Nguyễn
Ánh, hai hay ba lần trong một năm [Xem Launay, sđd, trang 309, 310].
Như vậy Pigneau đã đủ là "Khổng Minh" của Nguyễn Ánh chưa?
Đó Nguyễn Ánh
có khoảng 20 người phiêu lưu Pháp "giúp", từ năm 1777 đến
năm 1820 (43 năm), so với hàng ngàn quân Tề Ngôi của Lý Tài,
Tập Đình (chỉ nói đến hai vị tướng cướp Tề Ngôi nầy
thôi) giúp Tây Sơn, đã đủ để Nguyễn Ánh "Cõng Rắn Cắn
Gà Nhà" chưa?
C – Pháp đô
hộ Việt-Nam là do Nguyễn Ánh ?
I – Phong trào
đi chiếm Thuộc Địa của Phương Tây, vì do Nguyễn Ánh đã
dùng những người phiêu lưu Pháp nói trên?
Hiện tượng chiếm
thuộc địa của các nước Phương Tây đã có từ lâu. Đến
năm 1815, một số lớn các nước Tây Phương, chưa đủ phương
tiện kinh tế, kỹ thuật để đi chiếm thuộc địa, mặc
dù được các thừa sai đạo Ki-Tô khuyến khích, và các nước
Tây Âu cũng đã có ý định đi chiếm thuộc địa, nhưng chưa
gặp thời cơ thuận tiện, cho mãi đến cuộc "Cách Mạng Công
nghiệp" vùng lên vào khoảng năm 1840 với sự "bùng nổ đường
sắt" (Hỏa xa), nên các nước Tây Âu mới đua nhau đi chiếm
thuộc địa. Có càng nhiều thuộc địa càng hay, có những
thuộc địa rộng lớn càng tốt. Họ được xem là những
"cường quốc", có quân đội tinh nhuệ, có vũ khí tối tân,
có quân dụng, tàu chiến hiện đại... Các nước cạnh tranh
nhau đi tìm thuộc địa gồm có các nước chính sau đây: Bồ
Đào Nha, Y pha Nho (Tây ban Nha), Hòa Lan, Anh, Nga, Pháp... và sau
nầy có cả đế quốc Nhật (khoảng 1880).
1) Nguyên nhân
a) Vì cuộc "Cách
Mạng Công Nghiệp" phát triển quá mạnh ở Tây Âu, nên tài
nguyên của các nước nầy đã cạn quẹo, họ phải đi tìm
tài nguyên ở các nước chậm tiến khác, như mỏ các khoáng
chất, mỏ vàng, mỏ bạc, và đất đai để trồng cây công
nghiệp, như cây cao-su. [Xem "Les raisons de l’expansion coloniale",
trên Mạng Internet. "Nguyên nhân về sự bành trướng tìm Thuộc
Địa"].
b) Tìm nhân công
rẻ mạt ở các nước chậm tiến (họ cũng muốn các nước
nầy tiêu thụ những sản phẩm công nghiệp thừa thãi của
họ, nhưng người dân bản xứ không đủ phương tiện tài
chánh để mua). Mặt khác vì nạn nhân mãn, các nước Tây
Âu khuyến khích dân sang chiếm cứ Mỹ Châu [Xem "Amérique Septentrionale"
Wikipedia 2022. "Bắc Mỹ Châu"], và sau nầy Bắc Mỹ đã công
nghiệp hóa, cần nhân công, nên Tây Âu đã đưa khoảng 33
triệu người sang Mỹ [Xem "New York, Une ville issue de l’immigration",
trên Mạng Internet. "NY, thành phố của người di cư/nhập cư"].
c) Nhờ "Cách Mạng
Công Nghiệp", Tây Âu rất giàu có và cho mình là "Văn Minh"
hơn các nước chậm tiến. "Chủng Tộc da Trắng" được xem
trội hơn những chủng tộc khác [Xem "Les raisons de l’expansion
coloniale", trên Mạng Internet. "Nguyên nhân về sự bành trướng
tìm Thuộc Địa"].
d) Sau cùng là Phải
Bảo Đảm sự "Cứu Rỗi Linh Hồn" của người dân thuộc
của các nước chậm tiến (Các vua Tây Âu, đều do các Giám
Mục Ki-Tô làm lễ thụ phong), vì cho dân những nước chậm
tiến thờ "Ma Quỷ". Như thế các thừa sai Ki-Tô giáo La-Mã
và Tin-Lành được tung ra khắp năm châu, bốn bể để rao
giảng "Phúc Âm" (Evangile/Gospel). Phần nhiều, họ tìm những
người nghèo (khoảng 90 đến 95%) để rao giảng (người Việt
xưa ta có câu: "hết gạo thì theo đạo") [Tôi có tài liệu
nói về chuyện nầy, nhưng nay bị thất lạc, và vì lớn tuổi
nên tôi tìm không ra. Xem Nguyễn Văn Lục "1000 năm chống Tàu,
100 năm đô hộ Tây: Thực chất và huyền thoại". NVLục không
cho xuất xứ trong bài viết nầy, và ở trên Mạng Internet
cũng có vài bài như "Chút duy tư về truyền giáo" của Thanh
Tâm...], rồi sau đó nuôi nấng con cháu của những người
đó để trở thành những nhà trí thức, có địa vị trong
xã hội, một số trở thành linh mục, hay quan lại ở các
triều đình. Con cháu của những người nầy tất nhiên là
theo đạo Ki-Tô hết. [Xem "Les raisons de l’expansion coloniale",
trên Mạng Internet. "Nguyên nhân về sự bành trướng tìm Thuộc
Địa"].
2) Trường hợp
của Nhật
a) Trước năm 1853,
nhiều nước Tây Âu đã đến Nhật xin đặt thương điếm
để buôn bán, nhưng bị từ chối gắt gao. Nước Mỹ (USA:
Hiệp Chúng Quốc, 合衆國) [Tôi thấy rất nhiều người Mỹ,
gốc Việt, viết chữ Chủng, dấu hỏi, thay cho chữ chúng,
dấu sắc. Tôi không biết vì lý do gì.], đã bị các nước
Tây Âu chiếm làm thuộc địa, nên dân và chính quyền Mỹ
rất ghét chuyện đi chiếm thuộc địa, và khi đã hùng mạnh
lên, chính quyền Mỹ còn cảnh cáo các nước Tây Âu về việc
đi chiếm thuộc địa. [Xem "Etats Unis: l’anticolonialisme des
américains et le déclin de empires traditionnels", trên Mạng Internet.
"Chống Thuộc Địa của Mỹ và sự suy tàn của các đế quốc
truyền thống"]. Năm 1853, Phó Đô Đốc (Commodore) Matthew Perry
trình quốc thư xin buôn bán, và nói rằng chỉ lo về mặt
thương mãi, chứ không chiếm cứ thuộc địa. Năm sau 1854,
Perry lại đến, với một hạm đội vào vịnh Đông Kinh (Edo),
đòi chánh phủ Nhật phải cho buôn bán, nếu không sẽ bắn
phá thành phố. Chính phủ Nhật phải nhượng bộ, chẳng những
cho phép buôn bán mà còn cho Mỹ lập Lãnh Sự Quán tại Đông
Kinh. [Xem "Relations entre les Etats Unis et le Japon", Wikipedia 2022.
"Quan hệ giữa Mỹ và Nhật"]. Cũng vì vậy mà Nhật không
bị chiếm làm thuộc địa, như các nước Á Châu khác. Đây
là nói chuyện lúc bấy giờ, ở thế kỷ thứ 19. Mỹ có một
lục địa rất rộng lớn, chưa khai thác hết, còn bây giờ
là một chuyện khác.
b) Cũng phải nói
đến Minh-Trị Thiên Hoàng (1852 – 1912), một vị vua có sáng
kiến canh tân, hiện đại hóa đất nước, theo mẫu mực của
các nước tư bản Tây Phương (Hiện tôi có một đồng Yen,
thời Minh-Trị đề One Yen!). Ông được một số đông đại
thần tài giỏi phò tá. Ông lập Hiến Pháp và biến Nhật
thành một nước Quân Chủ Lập Hiến. Ông nhập cảng máy
móc tân tiến của Âu Châu, rồi cho tháo ra, để nhân công
bắt chước làm lại và làm nhiều ra. Ông cải cách nền Giáo
Dục. Ông đưa sinh viên sang Tây Âu du học. Ông hiện đại
hóa Quân Đội... Theo lịch sử Nhật, ông là người có công
rất lớn, đã đưa nước Nhật thành một trong những Cường
Quốc trên thế giới thời bấy giờ. Một khi đã là cường
quốc, thì Nhật muốn mở rộng biên giới. Sau khi chiếm quần
đảo Lưu Cầu (Ryukyu) ở phía Tây Nam năm 1879, Nhật còn chiếm
Cao Ly vào năm 1910, đó là chưa kể đến khoảng 30 vùng đất
mà Nhật đã tạm chiếm trong 2 trận Thế Chiến. [Xem Wikipedia
và "Liste des territoires occupés par le Japon impérial", Wikipedia.
"Danh sách những vùng đất chiếm bởi đế quốc Nhật"].
Theo tôi, không chỉ
có vua Minh-Trị muốn canh tân đất nước mình, mà còn có
những Nguyên Thủ Quốc Gia khác ở Á Đông, cũng có những
ý kiến tương tự. Nhưng khi nước mình đã bị làm thuộc
địa của các nước Tây Phương, thì không triển khai các
hoài bão của mình được. Nhật rất may mắn được Mỹ can
thiệp, nếu không thì đã bị các nước Tây Âu chiếm làm
thuộc địa rồi.
Nguyễn
Vĩnh-Tráng.
Tiết Hàn Lộ năm
con Cọp
109 102 022 nvt*ttl*
Xin
xem tiếp Phần III. |