Patrick Modiano
Giải Nobel văn chương 2014

TS Phạm Trọng Chánh

Sinh ngày 30-7-1945 tại Boulogne Billancourt, ngoại ô Paris, tác giả hơn 30 quyển tiểu thuyết, truyện phim., giải thưởng Văn Chương Hàn Lâm Viện Pháp, giải thưởng Goncourt, tác phẩm ông được dịch 36 thứ tiếng trên thế giới, vừa được giải Nobel Văn Chương năm 2014, đây là nhà văn Pháp thứ 15 được vinh dự trao giải này, khẳng định sự đóng góp quan trọng văn chương Pháp cho nền văn học thế giới.

Sinh ra sau Đệ Nhị Thế chiến, tuổi trẻ ông lớn lên trong cô đơn và bất hạnh, cha là Albert Modiano, mồ côi từ 4 tuổi, buôn đồ cổ, buôn nước hoa khi lời khi lỗ, khi lên voi khi xuống chó, mẹ là Lucia Colpeyn, dịch giả, công việc khi có khi không, niềm hạnh phúc của ông là ở trong căn hộ 15 quai Conti, mua lại của nhà văn Maurice Sachs để lại với cả một thư viện sách, cha mẹ ly dị nhau, nhiều khi ông sống với ông bà ngoại, khi ở nội trú trong trường. Tuổi thơ thiếu thốn, sách là nguồn an ủi say mê, mua bán sách cũ là một thú vui, một nguồn sinh sống, nhiều quyển sách tặng phẩm trong tủ sách Maurice Sachs có chữ ký tác giả, mang lại cho ông một lợi nhuận lớn. Có lần khi mẹ khó khăn, mẹ bảo ông đến xin cha trợ cấp, người dì ghẻ đã báo cảnh sát bắt ông, người cha đã không nhìn ông, mà còn bảo ông là một "thằng du đảng", từ đó ông không nhìn mặt cha, và cha chết ông cũng không cần biết nấm mồ cha chôn ở đâu.

Văn chương ông là một chuổi hoài niệm đi tìm quá khứ, một giấc mơ hạnh phúc đã mất. Thiếu vắng tình yêu người cha, ông tìm nguồn an ủi trong đọc sách, và viết văn, thơ từ năm 12, 13 tuổi. Được gặp gỡ nhà văn Raymond Queneau danh tiếng từ năm 15 tuổi, bạn của mẹ, dạy kèm ông học, ông say mê con đường văn chương và ước mơ trở thành một văn hào như Balzac. Đậu tú tài xuất sắc năm 1962 sớm hơn một tuổi, ông được nhận vào nội trú học dự bị môn Triết Học trường Trung Học Henri IV danh tiếng của Paris, để chuẩn bị thi vào Ecole Normal Supérieur rue d'Ulme, nơi đào tạo các nhân tài nước Pháp, nhưng vì hoàn cảnh gia đình ông đành bỏ học để tự kiếm sống . Năm 1965 ông ghi danh học Văn Chương tại Viện Đại Học Sorbonne, nhưng rồi nơi học chỉ là các quán cà phê Saint Germain des Prés nơi gặp gỡ các văn nghệ sĩ Paris. Ông bắt đầu viết bài đăng trên báo Gapouillot năm 1966. Ông cùng bạn học Henri IV là Hugues Courson, sáng tác nhạc, ra một dĩa nhạc, có bài Etonez-moi, Benoit được ca sĩ Françoise Hardy hát, và Aspire à coeur được ca sĩ Régine hát. Tháng 5 năm 1968 phong trào sinh viên xuống đường ông có mặt ở các chiến lũy làm phóng viên cho báo Vogue.

Năm 1968 quyển tiểu thuyết đầu tiên La Place de l'Etoile (Quảng trường Ngôi sao) được Raymond Queneau, ca ngợi nâng đỡ được in nhà xuất bản Galimard, được giải thưởng Roger-Ninier và giải Fénéon là một thành công đầu tiên. Từ đó ông liên tục viết và xuất bản và sống về nghề cầm bút.

1969. xuất bản La ronde de nuit (Tuần tra đêm)

Năm 1970 ông kết hôn với cô Dominique Zehrfuss, con gái Kiến trúc sư danh tiếng Bernard Zehrfuss, tác giả công trình Mái vòm CNIT tại trung tâm khu đô thị mới La Défense Paris. Đám cưới ông được hai nhân chứng là hai nhà văn Raymond Queneau và François Mauriac (Prix Nobel, Bộ Trưởng Văn Hóa). Ông bà sinh được hai cô gái là Zina Modiano (1974) đạo diễn và Marie Modiano (1978) Ca sĩ, nhà văn.

1972 xuất bản tiểu thuyết thứ ba Les Boulevards de ceinture (Các đại lộ vành đai), ông được Giải thưởng lớn Văn chương Hàn Lâm Viện Pháp, ông trở thành một khuôn mặt lớn trong văn học hiện đại Pháp.

1973 viết truyện phim Lacombe Lucien, cho Louis Malle đạo diễn, kể chuyện một thanh niên vào bưng kháng chiến chống Đức Quốc xã, nhưng rồi do một tình huấn trái ngang lại trở thành lính Bảo An của chính phủ Vichy đầu hàng Đức Quốc Xã và chàng thanh niên đó đã bắt chính cha mình.

1974 kịch Polkia đạo diễn Jacques Mauclaire diễn tại Théâtre Gymnasse Paris.

1975 Villa triste (Biệt thự buồn) được Giải các nhà sách. Được Patrice Leconte đạo diễn thành phim Le Parfum d' Yvonne năm 1985.

1977. Livret de famille (Sổ gia đình)

1978 Rue des Boutiques obscures (Con đường các cửa tiệm tối tăm) được giải thưởng Goncourt, giải thưởng lớn giá trị của văn chương Pháp.

1981 Une jeunesse (Một tuổi trẻ), được Moshé Mizrahi đạo diễn thành phim năm 1983.

1981 Mémory Lane (Ký ức Lane) với tranh vẽ của Pierre Lê Tân.

1982 De si braves garçons (chuyện các cậu bé can đảm)Mikhael Hers đạo diễn thành phim Charell năm 2006

1983 Poupée blonde (Búp bê tóc đỏ hung) với tranh vẽ Pierre Lê Tân.

1984 Giải Văn Chương Hoàng Tử Pierre de Monaco toàn bộ tác phẩm.

1985 Quartier perdu (Khu phố đã mất)

1986 Dimanches d'Aout (Những chủ nhật tháng 8) Manuel Poirier đạo diễn thành phim Te quero năm 2001.

1986 Une aventure de Choura (Một cuộc phiêu lưu của Choura) minh họa Dominique Zehrfuss.

1988 Catherine Certitude, với tranh Sempé.

1988 Remise de peine (Giảm án)

1989 Vestiaire de l'enfance (Tủ áo tuổi thơ)

1990 Voyage de Noce (Tuần trăng mật)

1991 Fleurs de ruine (Hoa trên hoang tàn)

1992 Un cirque passe (Gánh xiệc đi qua) Alain Nahn đạo diễn thành phim Des gens qui passe năm 2009.

1993 Chien de printemps (Con chó mùa xuân)

1995 Truyện phim Le Fils de Gascogne , Pascal Auber đạo diễn.

1996 Huân chương Chevalier de l'Ordre National de Légion d'honneur

1996 Du plus loin de l'oublie (Bên kia bờ lãng quên)

1997 Đóng phim vai Bob trong Généralogie d'un crime de Raoul Ruiz

1996 Elle s'appelle Françoise (Nàng tên gọi Françoise) với Catherine Deneuve.

1997 Dona Bruder

1999 Des inconnus (Những kẻ vô danh)

2000 Giải Văn Chương Paul Morand toàn bộ tác phẩm. Giải Thế giới Cino Del Duca toàn bộ tác phẩm.

2001 La Petite Bijou (Món nữ trang nhỏ) được giải Jean Monnet Văn chương Âu Châu.

2003 Accident nocturne (Tai nạn ban đêm)

2003 Bon voyage J.P. Rappeneau đạo diễn

2005 Un Pedigree (Phả hệ)

2007 Dans le café de jeunesse perdue (Trong quán cà phê tuổi trẻ hư hỏng)

2010 L'Horizon (Chân trời)

2011 Giải BnF Thư Viện Quốc Gia Pháp, giải Marguerite Duras toàn tác phẩm

2012 L'Herbe des nuit (Cỏ đêm)

2012 Giải Quốc Gia Áo. Văn Chương Âu Châu.

2013 Pour que tu ne perds pas dans la quartier (Để người không lạc đường trong khu phố)

2014. Giải Nobel Văn chương.

Trong các bài phỏng vấn Partrice Modiano ít nói về mình, chỉ có quyển Un pedigree (phả hệ) là một quyển tự truyện về cuộc đời ông. Nhưng qua toàn bộ tác phẩm chúng ta thấy thấp thoáng một tuổi trẻ cô đơn, đau thương tiếp tục ám ảnh toàn bộ tác phẩm ông.

Trong bài phỏng vấn Nathalie Crom trên Télérama số 3377 1-10-1914 ông viết :

" Trong những năm 1960, những người thuộc thế hệ tôi muốn viết nhưng không thích tiểu thuyết, hay các chuyện đơn thuần văn chương. Khi tôi bắt đầu tôi hướng về trước tiên các ngành Khoa học Nhân văn. Có cảm tưởng như tất cả mọi người đều cần một vị thầy, mong được khuyến khích, hướng dần, rồi họ trở thành đệ tử của Barthes(Roland) hay Foucault (Pierre)hay Althusser (Louis). Còn riêng tôi, tôi đã có một tầm nhìn về tiểu thuyết, do đó tôi đứng một bên các lý thuyết. Các vị thầy đó, tôi chỉ chú ý đến nhân cách của họ. Tôi lưu ý đến các chi tiết trong hành động, trong nhân cách, nhưng không chú ý đến tư tưởng họ. Tôi còn nhớ có lần tôi tình cờ gặp Jacques Lacan và tôi quan sát ông từng cử chỉ, lời nói, cách nói chuyện. Cách nhìn của tôi có vẻ như phù phiếm, tôi đành chịu vậy..

Hỏi Viết văn có phải là một hoạt động thú vị ? Ông trả lời :

" Điều tôi thích trong viết văn, là ước mơ trước khi viết. Khi viết tự nó không, không thú vị gì cả. Phải cụ thể hóa ước mơ trên trang giấy. Nhiều khi tôi tự hỏi, các nhà văn khác đã làm thế nào ? Làm thế nào các tác giả như Flaubert đã làm thế kỷ XIX. Viết đi, viết lại, đúc kết từ một phát thảo ban đầu cuối cùng không còn gì cả trong bản viết cuối cùng  quyển sách ? Điều đó làm tôi sợ hãi. Cá nhân tôi, tôi bằng lòng với sự sửa chữa bản thảo đầu tiên, như bức tranh vẽ bằng một nét bút. Sự sửa chữa càng nhiều càng làm nhẹ bớt, như một động tác giải phẩu. Phải cắt nhanh một lưỡi dao như nhà giải phẩu, lạnh lùng, rồi sau đó chỉ cần thay đổi, sửa chữa vài chữ, làm nhẹ bớt. Chỉ cần thay đổi vài chữ trong một trang là thay đổi tất cả. Nhưng đó là cách xào nấu của mỗi nhà văn, chẳng thú vị gì cho người khác.

Trong các quyển sách đầu tiên, tôi không hề chia làm chương mục, cũng chẳng xuống hàng, để cho dễ thở. Trước tiên tôi tự hỏi vì sao, và tôi hiểu rằng viết văn không thích hợp với tuổi trẻ. Trừ trường hợp các thiên tài thi ca như Rimbaud, viết rất trẻ, có thể là do một thúc dục nội lực bộc phát từ tâm hồn, người ta không biết nó như thế nào. Hãy nhìn người khuân vác dọn nhà, họ chịu trên vai, trên lưng sức nặng quá cỡ, bởi vì họ biết rằng thân thể họ phải chịu đựng như thế. Viết cũng vậy, phải biết mình có tư thế như vậy. ? Lúc đầu tôi không làm được, tôi bực bội, căng thẳng, khó mà tập trung trí não. Hơn nữa dường như có sự phân tán khi dòng tư tưởng chạy từ não bộ đến bàn tay. Khi ta nghĩ đến điều phải kích thích để viết, khi đó đã chậm trể, khi đã mất dòng tư tưởng, anh như con vịt bị cắt cổ vẫn tiếp tục chạy dù không còn đầu.

Phải mất nhiều năm, tôi mới học tập quán xuyến được việc đó, tôi viết thông thả hơn, thông thoáng hơn trong các tiểu thuyết của tôi. Viết không dễ, nhưng phải nắm được kỷ thuật viết, dần dà ngày càng viết khá hơn.. Nhưng nếu đôi khi, tôi tự nhủ, có sự lỗi thời trong văn phong, có thể là sự chậm chạp, do hoàn cảnh tiến bộ biến đổi nhanh chóng ngày nay, tất cả đều biến đổi ngày càng nhanh, và nhà văn cứ giữ nguyên nhịp điệu.  " 

" Thật cảm động khi có được độc giả, thật kỳ diệu, chúng ta có cảm tưởng khi giao cảm với nhau. Tuy vậy, mỗi quyển sách, đều xãy ra cảm giác này. Thật là khó chịu : khi chúng ta đừng lại một lúc bất ngờ khi quyển sách bị cắt đứt nhịp cầu, nó tự bỏ ta đi. Người ta không thể có độc giả riêng mình. Quyển sách chấm dứt khi trở thành một đồ vật, một khối nhão nhớt, như bột dính, một khối chẳng hình thù mà chúng ta không còn thấy những chi tiết, mà chỉ có một cái nhìn bao quát. Và chính độc giả phán đoán nhận thức, điều này xảy ra trong nghệ thuật nhiếp ảnh. Lúc đó quyển sách không còn của người viết mà là của người đọc. "

Patrick Modiano, từ một tuổi thơ bất hạnh, cha mẹ chia ly, sống trong thiếu thốn, dù học giỏi mà không có phương tiện học đại học, ông không trở thành " du đảng " như cha ông mắng ông trước cơ quan cảnh sát. Ông đã tìm đuợc nguồn an ủi nỗi thiếu thốn, " con không cha như nhà không nóc " bằng văn chương, được sự nâng đỡ của một tủ sách nhà văn Maurice Sachs để lại, của người cha tinh thần văn hào Raymond Queneau, ông được văn hào François Mauriac làm chứng nhân cho lễ kết hôn, ông được giới văn học đánh giá cao từ quyển sách đầu tiên, ông trở thành một bất tử trong Hàn Lâm Viện Pháp, và ngày nay ông trở thành một giải Nobel của văn học thế giới.

Paris, 15-10-2014
Phạm Trọng Chánh
*Tiến sĩ Khoa Học Giáo Dục Viện Đại Học Paris V Sorbonne.