Bạch Hạc
thơ phú & ca khúc 

Phanxipăng

Việt Trì, tỉnh lị Phú Thọ, được mệnh danh thành phố ngã ba sông. Đó là ngã ba Bạch Hạc, nay thuộc phường cùng tên. Bài này điểm qua một số nét độc đáo về lịch sử, địa lý, địa danh, danh lam thắng tích, đặc sản ẩm thực nơi đó, đoạn góp phần giải đáp câu hỏi thú vị: đã có những tác phẩm văn chương và âm nhạc nào đề cập đất cùng người Bạch Hạc?

Nhiều tao nhân mặc khách bấy lâu biết bài phú Ngã ba Hạc do Nguyễn Bá Lân sáng tác từ thế kỷ XVIII. Thời hiện đại có bài thơ Đêm Bạch Hạc do Quang Dũng sáng tác năm 1969, đã được hai nhạc sĩ Lê Phú Hải và Duy Trác Lê phổ thành hai bài hát cùng tên.

Từ năm 2008 đến nay, đúng dịp giỗ Quốc Tổ Hùng Vương mùng 10 tháng 3 âm lịch, trong sân đền Tam Giang, đêm thơ nhạc Về bến Hạc được tổ chức tạo thành sinh hoạt văn nghệ định kỳ thường niên hấp dẫn và bổ ích

KỶ NIỆM NGÃ BA HẠC

Năm Mậu Tý 2008, Phanxipăng – người viết bài này – và hai bạn một thuở cùng lớp cùng khoa Ngữ Văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I là Trần Quốc Đỉnh (sáng tác thơ thì ký Trần Nam Xuyên, viết tự truyện lại ký Đinh Như Điển) và Nguyễn Văn Lự (xước danh Lù Lú Lự từ thuở sinh viên) ghé đền Hùng dự giỗ Quốc Tổ Hùng Vương.

Từ thành phố (TP) Vĩnh Yên, tỉnh lị Vĩnh Phúc, 3 anh em trên 2 chiếc Honda phóng bon bon theo quốc lộ 2B, đến TP Việt Trì, tỉnh lị Phú Thọ. Trên cầu đường sắt Việt Trì bắc ngang sông Lô, bộ tam khoan khoái đứng tréo trông theo ngã ba Bạch Hạc, gọi tắt thành ngã ba Hạc. Đây là nơi hợp lưu ba con sông Thao (dòng chính của sông Hồng từ Lào Cai đến ngã ba Hạc được gọi vậy), Lô (còn gọi sông Tuyên), Đà (còn gọi sông Bờ), có đền Tam Giang thờ ba vị:

1. Đức Thánh Cả tức Bạch Hạc Đại Vương.
2. Đức Thánh Bà tức Thánh Mẫu Quách A Nương.
3. Đức Thánh Hai tức Chiêu Văn Đại Vương.
Về lịch sử, độc mỗi một Đức Thánh Hai rõ ràng gốc gác và hành trạng. Đó là Trần Nhật Duật (1255 – 1330), hoàng tử thứ 6 của vua Trần Thánh Tông, nên người đời quen gọi Ông Hoàng Sáu. Danh tướng Trần Nhật Duật góp nhiều công lớn trong cuộc kháng chiến chống bè lũ Nguyên Mông xâm lược đất nước ta lần thứ 2 và 3, đáng kể nhất có chiến thắng Hàm Tử. Nhờ thông thạo nhiều ngoại ngữ và tiếng dân tộc ít người, lại biết rộng, hiểu sâu, can đảm, khôn khéo, rất hoạt ngôn, Trần Nhật Duật còn là nhà ngoại giao lỗi lạc của triều Trần, mà chuyện đặc sắc sau được bao thế hệ hào hứng truyền tụng. Chuyện đã được Quốc sử quán triều Hậu Lê ghi nhận trong Đại Việt sử ký toàn thư và Quốc sử quán triều Nguyễn ghi nhận trong Khâm định Việt sử thông giám cương mục. Rằng năm Canh Thìn 1280, được vua Trần Nhân Tông cử làm Trấn thủ Đà Giang, Trần Nhật Duật dám nhận lời mời của Trịnh Giác Mật là chúa đạo Đà Giang to gan lớn mật chống cự triều đình: „Nếu ân chủ một mình một ngựa đến, Giác Mật xin hàng ngay". Bao thân tín ngăn cản, lập tức Chiêu Văn Đại Vương phất tay:

- Nếu kẻ kia tráo trở với ta thì triều đình cử Vương khác tới.

Trần Nhật Duật phi ngựa vào sào huyệt đối phương, nói tiếng Mường lưu loát, hết sức tự nhiên cùng Trịnh Giác Mật bốc xé thức ăn bằng tay, uống rượu bằng mũi. Chỉ chừng ấy đủ khiến Trịnh Giác Mật khoan khoái „tâm phục, khẩu phục", thành khẩn quy thuận triều Trần.

Hiện nay, vị anh hùng dân tộc Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật còn được thờ cúng tại các công trình xây dựng ở huyện Thường Tín (thủ đô Hà Nội), TP Nam Định và huyện Ý Yên (tỉnh Nam Định), huyện Yên Mô (tỉnh Ninh Bình), huyện Quảng Xương (tỉnh Thanh Hóa), huyện Tân Sở (tỉnh Quảng Trị), v.v.. Riêng đền Tam Giang ở ngã ba Hạc (tỉnh Phú Thọ) từng được 19 sắc phong trải qua các triều đại quân chủ, rồi sau này, năm 2010, được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia.

Về địa lý, cần diễn tả rõ ràng hơn nhằm tránh nhầm lẫn. Sông Đà hội lưu với sông Thao tức sông Hồng ở ngã ba Trung Hà. Tại đó, ngày 20-4-2002, cầu Trung Hà được khánh thành. Cây cầu bê tông cốt thép dự ứng lực này bắc qua sông Đà, nối thôn Trung Hà, xã Thái Hòa, huyện Ba Vì, TP Hà Nội với thôn Hạ Nông, xã Hồng Đà, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ. Sông Hồng chảy thêm chục cây số nữa thì gặp sông Lô, tạo nên ngã ba Bạch Hạc. Để tiện hình dung thực địa, đề nghị quý bạn đọc quan sát bản đồ.

Bạch Hạc nguyên tên làng cổ thuộc thị trấn Phong Châu, kinh đô nước Văn Lang thời vua Hùng. Thư tịch đầu tiên ghi nhận địa danh Bạch Hạc là Dư địa chí của danh nhân Nguyễn Trãi: „Đất Phong Châu thời cổ, nhân có đàn hạc trắng làm tổ trên cây, nên gọi là Bạch Hạc."

Nay, Bạch Hạc là phường „cửa ngõ" của TP Việt Trì, tỉnh lị Phú Thọ.

Sau khi dự giỗ Tổ trên núi Nghĩa Lĩnh, bộ tam thong dong trở về, dừng xe dưới chân cầu Việt Trì, thoải mái dạo gót nơi hữu ngạn dòng Lô để chụp ảnh lẫn quay phim, đoạn túm tụm trong nhà hàng cận kề ngã ba Hạc. Tam ca „3 Con Hạc Trắng Bay Zìa Bồng Lai" hào hứng đàn hát, mở màn bằng trường ca Sông Lô của Văn Cao, kế tiếp là Tiếng gọi sông Đà của Trần Chung, rồi Tiếng sông Hồng của Phạm Đình Chương,

Khai vị, Trần Quốc Đỉnh ực ngụm rượu ngô Xuân Sơn, khà rõ dài, vừa vung tay vừa cất giọng oang oang đoạn đầu bài phú quốc âm độc vận Ngã ba Hạc của Nguyễn Bá Lân (1700 – 1786):

Vui thay ngã ba Hạc;
Vui thay ngã ba Hạc.
Dưới họp một dòng;
Trên chia ba ngác.
Ngóc ngách khôn đo rộng hẹp, dòng biếc lẫn dòng đào;
Lênh lang dễ biết sâu nông, nước đen pha nước bạc.

Nguyễn Văn Lự gắp thịt chua lợn lửng Thanh Sơn, gật gù:

- Việt Trì – TP ngã ba sông, mà mỗi sông một màu nước riêng, một nhiệt độ riêng, dẫu cùng thời điểm. Hầu hết mọi người tin rằng nước ngay ngã ba Hạc thiêng lắm, vì là nơi hội tụ linh khí giang san. Theo tục lệ cổ truyền thì mỗi năm âm lịch 2 lần, mùng 10 tháng 3 giỗ Quốc Tổ và 25 tháng 9 lễ hội đền Tam Giang, ngư dân ở đây bơi trải ra giữa ngã ba Hạc, thành kính dâng lễ, cầu khấn Thổ Công và Hà Bá cho múc nước về dùng. Mà tiếng Pháp mí lị tiếng Anh gọi tên 3 con sông này thế nào, hở anh Phanxipăng?

- Pháp & Anh à? Họ gọi sông Hồng là fleuve Rouge / Red river / sông Đỏ, sông Đà là rivière Noir / Black river / sông Đen, sông Lô là rivière Claire / Clear river / sông Trong.

ĐÊM THƠ NHẠC VỀ BẾN HẠC

- Ngoài bài phú chữ Nôm Ngã ba Hạc cực kỳ nổi tiếng của ngài Thượng thư Nguyễn Bá Lân, còn bài thơ nào đề cập nơi đây nhẩy?

Nghe Trần Quốc Đỉnh thắc mắc, Nguyễn Văn Lự – lâu nay làm giáo viên bộ môn Ngữ văn trường THPT Vĩnh Yên ở tỉnh Vĩnh Phúc – liền ư ử ngâm nga:

Gắng công kén hộ cốm Vòng,
Kén hồng Bạch Hạc cho lòng no say.
Trách người lòng dạ đổi thay,
Hồng này đã thối, cốm này đã thiu.
Trần Quốc Đỉnh hài hước:

- Bài ca dao „liên kết – liên doanh" Hà Nội với Phú Thọ dẫu nặng màu nặng mùi nhưng... marketing đặc sản địa phương được đấy. Thế có bài thơ của tác giả nào về ngã ba Hạc chăng?

Nguyễn Văn Lự thêm:

- Cũng chưa có bài hát nào về ngã ba Hạc, phải thế không ạ?

Chà, câu hỏi của thi nhân họ Trần cư ngụ tại Nam Định và nhà giáo họ Nguyễn thường trú tại Vĩnh Phú „hơi bị" trúng „thời vụ". Dịp Giỗ Quốc Tổ năm 2008 ấy, đúng chính kỵ mùng 10 tháng 3 năm Mậu Tý ấy, phường Bạch Hạc quyết định thực hiện đêm thơ Về bến Hạc lần đầu tiên, bước đầu thành công đáng phấn khởi. Từ đấy trở đi, cứ thời điểm dễ nhớ đó hằng năm, đêm thơ Về bến Hạc diễn tiến trong sân đền Tam Giang rộn vang những tràng pháo tay tán thưởng. Tính đến nay, năm Đinh Dậu 2017, đêm thơ Về bến Hạc vừa được tổ chức lần thứ 10.

Chương trình đêm thơ Về bến Hạc gồm khoảng 15 tiết mục múa, hát các ca khúc phổ thơ và ngâm thơ mà ưu tiên là thơ phản ánh truyền thống, cảnh sắc cùng con người Bạch Hạc. Sinh hoạt văn nghệ định kỳ thường niên nọ góp phần kích thích các nghệ sĩ chuyên nghiệp lẫn tài tử ở gần xa thích thú sáng tác thơ về Bạch Hạc, hoặc phổ những bài thơ về Bạch Hạc thành bài hát. Tạm nêu ba bài thơ về ngã ba Hạc, đầu tiên là bài tứ tuyệt hóm hỉnh Ngã ba của Điền Ngọc Phách:

Trước ngâm ngợi Ngã ba Hạc phú
Ngã ba xuân – lênh láng – ngã ba tình
Nay cuồn cuộn ba dòng hội tụ
Phù du nào trôi nổi nỗi băng trinh?
Bài thơ Thoáng chiều Bạch Hạc của Phạm Ngọc Cảnh thoải mái nhờ... thoáng, trích:
Chỗ mật thiết gắn liền trời với đất
Dấu chân ta dàn một thế thăng bằng
Bài thơ lục bát Đêm về bến Hạc do Đỗ Xuân Thu sáng tác vào đêm thơ Về bến Hạc lần thứ nhất cứ „luênh loang" vì „say bềnh bồng" nào thơ, nào nhạc, nào cảnh, nào tình. Bài thơ gồm 2 khổ, đây là khổ đầu:
Tôi về bến Hạc đêm nay
Tiếng thơ thánh thót sóng say bềnh bồng
Giọt thơ 
          luênh loang
                    trên sông
Tôi bơi giữa ngã ba lòng Tam Giang
Con đò dùng dằng dọc - ngang?
Cánh Hạc Thơ chở tôi sang bên này
Về chương trình văn nghệ này, chúng tôi mạn phép góp đôi ý nhỏ. Thứ nhất, để chính xác hơn, nên gọi đêm thơ ca hoặc đêm thơ nhạc Về bến Hạc. Thứ nhì, cần tổ chức đêm thơ nhạc Về bến Hạc mỗi năm hai lần, lần kia vào 25 tháng 9 âm lịch, đúng dịp lễ hội đền Tam Giang.

ĐÊM BẠCH HẠC – THƠ & CA

Xét đề tài đang đề cập, lúc bấy giờ, ngày giỗ Tổ Hùng Vương năm Mậu Tý 2008, Phanxipăng chỉ mới biết kho tàng văn chương Việt Nam có bài phú Ngã ba Hạc triều Lê - Trịnh và bài thơ Đêm Bạch Hạc thời hiện đại, bèn đáp:

- Có bài thơ Đêm Bạch Hạc được sáng tác năm 1967.

Trần Quốc Đỉnh và Nguyễn Văn Lự đều tròn xoe mắt, đồng thanh:

- Ồ! Của ai thế?

Phanxipăng thư thả nhấm nháp đặc sản tương truyền được Hùng Vương khen ngợi „Văn Lang đệ nhất ngư". Ấy là cá anh vũ, mà quốc tế định danh khoa học bằng tiếng Latinh: Semilabeo notabilis W.K.H. Peters, thuộc họ Cyprinidae. Loài cá quá quý quá hiếm này không râu, đặc trưng hình thái nổi trội là đôi môi bành to rộng chắc khỏe, vẫn được gọi sụn môi, thừa sức bám chặt vào đá giữ thân không bị cuốn trôi lúc gặp lũ xiết. Suốt thời gian dài trong quá khứ, cá anh vũ được ưu tiên dành tiến vua, lâu nay vô cùng khó săn bắt. Cá anh vũ sinh sống chủ yếu ở lưu vực các sông Kỳ Cùng, Hồng, Lam, v.v., tuy nhiên theo nhiều ngư phủ thì chúng chọn ngã ba Hạc làm „thủ phủ". Đợi hai bạn đồng môn đồng song sốt cả ruột gan phèo phổi, Phanxipăng mới tủm tỉm:

- Tháng 9-1989, báo Nhân Dân Chủ Nhật đăng Bài thơĐêm Bạch Hạc" của Quang Dũng do Châu Hồng Thủy công bố. Cây bút này cũng xuất thân từ trường ta, khoa ta à nha.

Châu Hồng Thủy, họ tên Trần Quý Phúc, chào đời năm Quý Tị 1953 ở xã Nhân Thịnh, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam; cử nhân năm 1976 và tốt nghiệp cao học năm 1989 tại khoa Ngữ văn trường Đại học Sư phạm Hà Nội I. Năm 1985, dự trại sáng tác dành cho các nhà văn 6 tỉnh biên giới phía Bắc tổ chức 2 tháng liền trong nông trường bò sữa Mộc Châu ở tỉnh Sơn La, Châu Hồng Thủy được nhà văn Hoàng Thao – phụ trách trại viết – cho xem tờ giấy có thủ bút Quang Dũng. Đó là bài thơ Đêm Bạch Hạc được Quang Dũng ghi phía dưới: Việt Bắc thu đông 1967. Châu Hồng Thủy quá thích, xin phép chép lại. Mãi sau, năm 1989, Châu Hồng Thủy gửi bài thơ Đêm Bạch Hạc đăng báo Nhân Dân Chủ Nhật, khẳng định của Quang Dũng như nhan đề vừa nêu.

Văn Giá viết bài Áng mây trắng xứ Đoài: Quang Dũng truyền lên trang mạng talawas 24-6-2005, đăng lại trên tạp chí Văn Hóa Nghệ An tháng 11-2011, rồi in trong sách Nhà thơ Quang Dũng từ Tây Tiến đến Tây Nguyên của nhiều tác giả (NXB Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2017), đã dẫn trọn bài thơ Đêm Bạch Hạc, ghi nhận địa điểm và niên điểm sáng tác là Việt Bắc, 1967, lại cước chú: "Bài thơ này chưa có trong bất cứ một tuyển nào của Quang Dũng. Tôi chép lại bài thơ này từ sổ tay tư liệu của nhà thơ Châu Hồng Thủy vào quãng năm 1990 của thế kỷ XX, khi anh đang theo học ở Trường viết văn Nguyễn Du để chuẩn bị sang học Trường viết văn M. Gorki - Liên Xô cũ."

Năm 2014, sách Quang Dũng – tác phẩm được giải thưởng Nhà nước do NXB Hội Nhà Văn thực hiện, in bài thơ Đêm Bạch Hạc, ghi sáng tác năm 1957.

Tháng 10-2017, Phanxipăng ở Sài Gòn trao đổi với Châu Hồng Thủy ở Matxkva:

- Rất muốn được tận mắt xem thủ bản của Quang Dũng, ít nhất là ảnh chụp hoặc photocopy, nhằm xác định thơ của ai, anh Châu Hồng Thủy à. Bởi đã có những bài thơ tuy nét chữ Quang Dũng nhưng do người khác sáng tác, như Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị, Mưa rừng của Hoàng Yến. Thậm chí, bài thơ với dòng mở Mai chị về em gửi gì không, suốt thời gian dài quá đông người vẫn tin rằng của Quang Dũng, bởi Quang Dũng vẫn ngâm, có cả thủ bút Quang Dũng nữa, nhưng tác giả chính xác là Nguyễn Đình Tiên.

Qua hệ thống viễn liên, Châu Hồng Thủy – đương kim chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga kiêm tổng biên tập tạp chí Người Bạn Đường – ôn tồn:

- Năm 1985, dự trại viết ở Mộc Châu, từ ban tổ chức đến các nhà văn của 6 tỉnh biên giới chẳng ai sẵn máy ảnh. Thuở nọ, máy photocopy, cả tỉnh Sơn La đào đâu ra, dẫu có thì lúc đó bị chính quyền cấm sử dụng. Hơn nữa, lúc đó, thơ của Quang Dũng bị luồng dư luận gọi là „chính thống" bài xích. Hoàn cảnh ấy, mình chép được Đêm Bạch Hạc, sướng đến... run tay!

- Cớ sao các tài liệu ghi thời gian sáng tác Đêm Bạch Hạc cách nhau cả thập niên?

- Quang Dũng và Hoàng Thao là đôi bạn cùng dính Nhân Văn – Giai Phẩm nên họ khó gặp nhau ở Việt Bắc* năm 1959. Năm 1967 như Hoàng Thao kể, hợp lý hơn. Vả lại, cuối bài thơ được Quang Dũng ghi Việt Bắc thu đông 1967 cơ mà. Còn chi tiết này nên lưu ý: ngay dưới nhan đề Đêm Bạch Hạc, Quang Dũng đề Tặng Hoàng Phong.

- Từ năm 1986, tập thơ Mây đầu ô, có bài thơ Tây Tiến, được NXB Tác Phẩm Mới cấp phép ấn hành thì Quang Dũng hết bị chê eo chê ỏng mà được khen quá chừng chừng. Rồi bài thơ đó được Bộ Giáo Dục và Đào Tạo đưa vào chương trình giảng dạy Ngữ văn lớp 12 từ năm 1990. Rồi Quang Dũng được truy tặng giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001. Muộn, mà mừng.

- Nhờ tình hình chuyển biến tích cực nên năm 1989, mình gửi bài Bài thơĐêm Bạch Hạc" của Quang Dũng đăng báo Nhân Dân Chủ Nhật, hồi ấy do nhà báo Lê Thấu phụ trách. Báo ra, mình biếu nhà thơ Trần Lê Văn một tờ, nhưng chưa hiểu vì sao Tuyển tập Quang Dũng do ông ấy sưu tầm, chọn in năm 2000, lại không có Đêm Bạch Hạc. Lại thêm, „ông nghè" Ngô Văn Giá cước chú thiếu chính xác. Năm 1990, lúc cho Giá chép Đêm Bạch Hạc, mình học tiếng Nga tại trường Đại học Ngoại ngữ Thanh Xuân chứ không phải tại trường Viết văn Nguyễn Du.

Bài Đêm Bạch Hạc là thơ ngũ ngôn, gồm 5 khổ. 4 khổ đầu gồm 4 dòng. Riêng khổ cuối 2 dòng. Lúc sáng tác bài thơ này, ắt hẳn Quang Dũng nhớ bài thơ thất ngôn Đêm Việt Trì đề Tặng cô Huệ, phóng bút năm 1945, gồm 5 khổ mà dòng đầu mỗi khổ đều lặp đi lặp lại: Em là con hát ở bên sông.

Bài thơ này của Quang Dũng đã được hai nhạc sĩ Lê Phú Hải và Duy Trác Lê phổ thành hai ca khúc giữ nguyên đề Đêm Bạch Hạc.

1. Ca khúc Đêm Bạch Hạc do Lê Phú Hải phổ thơ Quang Dũng [Pdf]

2. Ca khúc Đêm Bạch Hạc do Duy Trác Lê phổ thơ Quang Dũng [Pdf]

_________________
* Việt Bắc ở phía bắc Hà Nội, nay được hiểu gồm 6 tỉnh gọi tắt: Cao Bắc Lạng Hà Tuyên Thái; tức Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên.

Đã đăng báo Giáo Dục & Thời Đại 277 (20-11-2017)



Chân dung Quang Dũng.
Tranh bút sắt: Phanxipăng

Bưu ảnh Pháp: 
Tonkin - Vietri - La Pointe sur le Fleuve Rouge et la Rivière Claire / 
Bắc Kỳ - Việt Trì - Mũi đất nơi ngã ba sông Hồng và sông Lô. 
Ấy là ngã ba Bạch Hạc

Bản đồ ngã ba Trung Hà và ngã ba Bạch Hạc

Ở ngã ba Hạc, đền Tam Giang có tượng Đức Thánh Hai 
tức Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật 
đứng trên thuyền rồng phóng ra sông Lô. 
Ảnh: Nhật Tân

 Cầu Việt Trì vắt qua sông Lô. Ảnh: Phanxipăng

Hát xoan - Phú Thọ đã được 
UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại năm 2011. 
Năm 2017, dịp Giỗ Quốc Tổ Hùng Vương, 
trong đêm thơ Về bến Hạc lần thứ 10 tại đền Tam Giang, 
phường Bạch Hạc, TP Việt Trì, có tiết mục hát xoan. 
Ảnh: Minh Quang