Tô đài lãm cổ
của Lý Bạch

Thu Tứ

Nguyên văn

Dịch nghĩa

Dịch ra thơ Đường luật
- Tùng Vân
- Chi Điền
- Bùi Khánh Đản
- Lê Nguyễn Lưu
- Thu Tứ

Dịch ra thơ tuyệt cú
- Thu Tứ

Dịch ra thơ sáu chữ
- Thu Tứ

Dịch ra thơ song thất lục bát
- Nguyễn Minh
- Thu Tứ

Dịch ra thơ lục bát
- Trần Trọng San
- Thu Tứ

*

 
Nếu xây thời vua Ngô Phù Sai, thì "Tô đài" "cổ" khoảng mười hai thế kỷ khi Lý Bạch đến "lãm". Một vạn bốn nghìn bốn trăm lần "nguyệt" đã soi bóng trên "Tây Giang"!

Liễu tơ, xuân tươi, thiếu nữ phơi phới, cất tiếng véo von... Trăng vằng vặc trên trời, trăng lung linh dưới nước, giữa hoang cũ một ông tiên thơ tha thẩn, gieo vần ngậm ngùi...

Mười ba thế kỷ nữa đã trôi qua. Cái chỗ Phù Sai hí Tây Thi nay có còn viên gạch nào không nhỉ.

Nguyên văn

Tô đài lãm cổ

Cựu uyển hoang đài dương liễu tân
Lăng ca thanh xướng bất thăng xuân
Chỉ kim duy hữu Tây Giang nguyệt
Tằng chiếu Ngô vương cung lý nhân.

Dịch nghĩa

Xem dấu xưa nơi đài Cô Tô
Vườn cũ, đài hoang, liễu mới đâm chồi
Khúc hát hái ấu hát lên trong trẻo cũng không nói xiết tình xuân
Nay chỉ còn có độc vầng trăng trên sông Tây Giang (1)
Xưa từng soi người đẹp trong cung vua Ngô.

Dịch ra thơ Đường luật

Tùng Vân:

Ðài hoang, vườn cũ, liễu còn tơ,
Dìu dặt lăng ca giọng gió đưa.
Nay chỉ Tây Giang vừng nguyệt tỏ,
Từng soi người ngọc điện vua Ngô.

Chi Điền:

Vườn cũ, lầu hoang, dương liễu xanh,
Lăng ca ai hát, khách buồn tênh!
Tây Giang còn đó vầng trăng bạc,
Từng chiếu Tô Đài bóng mỹ nhân!

Bùi Khánh Đản:

Lầu hoang, vườn cũ, liễu xanh tươi,
Vẳng khúc Lăng ca tiếng ngậm ngùi.
Còn lại Tây Giang vầng nguyệt tỏ,
Từng soi người đẹp ở Tô Đài!

Lê Nguyễn Lưu:

Vườn cũ đài hoang liễu thướt tha,
Xuân tươi dìu dặt khúc Lăng ca.
Tây Giang qua đấy vầng trăng bạc,
Từng chiếu cung Ngô gái Việt xưa.

Thu Tứ:

Vườn hoang lầu vắng liễu cứ tơ
Đâu đây văng vẳng khúc xuân mơ
Nhìn quanh thấy chỉ trăng đùa sóng
Ngày ấy Tây Thi mãi đến giờ...

Dịch ra thơ tuyệt cú

Thu Tứ:

Liễu xanh xanh lối cũ
Xuân dìu dặt đài hoang
Người cung xưa đâu tá
Lẻ loi bóng trăng vàng.

Dịch ra thơ sáu chữ

Thu Tứ:

Vườn cũ xanh càng cây mới
Nghe này: xuân lại về đây
Lộng lẫy cung vàng dáng ngọc
Trơ còn bóng nguyệt sông Tây.

Dịch ra thơ song thất lục bát

Nguyễn Minh:

Dương liễu xanh, đài hoang, vườn cũ
Giọng Lăng Ca cổ vũ dáng xuân
Tây Giang còn ánh trăng ngân
Từng soi người đẹp cung tần Ngô vương.

Thu Tứ:

Véo von nhỉ, xuân ca ai hát
Mặc lầu hoang, tha thướt liễu tươi
Lòng sông một bóng trăng chơi
Thiên hương thuở ấy giờ nơi trời nào...

Dịch ra thơ lục bát

Trần Trọng San:

Liễu tươi vườn cũ đài hoang,
Ca lăng vang tiếng, vẻ xuân thắm trời.
Chỉ còn bóng nguyệt sông tây,
Đã từng soi chiếu lên người cung Ngô.

Thu Tứ:

Vườn xưa, liễu mới đâm chồi,
Vang vang câu hát đón trời vào xuân.(2)
Một thời, còn lại ông giăng,
Cung Ngô từng vượt tường ngăn ghé nhòm!
__________

(1) Cô Tô nay thuộc thành phố Tô Châu tỉnh Giang Tô, trong khi con sông Tây Giang nổi tiếng lại ở miền nam Trung Quốc, cách nhau rất xa. Vậy Tây Giang trong bài thơ này hẳn là một con sông khác.

(2) Thanh Tâm Tuyền có câu thơ "Vang vang trời vào xuân".