Tám vị Hộ thế phương thiên 
trong điêu khắc Champa

Võ Quang Yến

Cuối năm 2005 đầu năm 2006, một cuộc trưng bày Những kho tàng nghệ thuật Việt Nam - Điêu khắc Champa đã được tổ chức tại viện bảo tàng Á Đông Guimet ở Paris. Đây là lần đầu tiên những hình tượng được ban tổ chức (*) mượn khắp nơi để hình thành một cuộc triển lãm rất đầy đủ về một nghệ thuật kéo dài hơn mười thế kỷ trên miền nam đất nước ta, từ thế kỷ VII đến thế kỷ XVII. Viện bảo tàng Guimet tiếp xúc với nghệ thuật Champa từ năm 1927, khi đón nhận từ viện bảo tàng Trocadéro về Đông Dương những di vật cổ, trong số ấy đặc biệt có hình tượng vô cùng đẹp đức Siva tìm ra ở tháp Bánh Ít. Ngày nay một phòng lớn ở viện bảo tàng Guimet dành riêng cho những hiện vật Champa (**). Và cuộc triển lãm Điêu khắc Champa được thực hiện sau ba năm trao đổi, đào tạo chuyên gia trùng tu giữa hai viện bảo tàng Guimet và Đà Nẵng.

Trong số những hiện vật được trưng bày, đáng chú ý là một nhóm tám hình tượng các vị hộ thế phương thiên astadikpâla, gọi ngắn dikpâla, kê trên một bục gỗ cuối phòng. Những vị thần nầy ngồi xếp chân nầy lên chân kia theo lối sattvaparyankasana, mỗi vị có kèm theo đằng trước bệ một con vật biểu trưng vâhana hay vật cưỡi, nên được gọi dipâlaka, trước đây ít được nói trên trong giới khảo cổ học. Nhờ những con vật biểu trưng nầy lần đầu tiên phát hiên cạnh tháp Mỹ Sơn A1, Henri Parmentier đầu thế kỷ XX đã xác định được vài vị  thần như vị có con ngỗng hamsa làm vật cưỡi biểu thị thần Brahma. Gần đây hơn, Jean Boisselier, nhân khảo sát những hiện vật ở viện bảo tàng TpHồChíMinh, tiếp tục xác định được vài vị khác  : các thần Vaju cưỡi ngựa, Indra cuỡi voi, Agni cưỡi tê giác, Nirrta cưỡi yaksa. Năm 1889, đế chóp balipîtha Vân Trạch Hòa phát hiện ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên, hiện trưng bày ở viện bảo tàng Thừa thiên - Huế, là tác phẩm duy nhất còn nguyên vẹn thể hiện một tập hợp tám vị, tất cả không còn đầy đủ chân tay, sắp theo chiều đi quanh thuộc nghi lễ pradaksina (chiều kim đồng hồ) : phương đông có Indra cưỡi voi, phương đông-nam có Agni cưỡi tê giác hay cừu đực, phương nam có Yama cuỡi trâu, phương tây-nam có Nirrta cưỡi yaksa hay á thần, phương tây có Varuna cưỡi ngỗng hamsa, phương tây-bắc có Vayu cưỡi ngựa hay linh dương, phương bắc có Kubera không có vật cưỡi, phương đông bắc có Isâna cưỡi bò. Nhờ đế chóp Vân Trạch Hòa, ngày ta biết được toàn bộ các vị hộ thế phương thiên và vị trí của các thần theo phương hướng tuy không biết rõ vị trí thực sự của các thần trong đền miếu, đặc biệt của hai vị thần phương đông và phương tây. Ban tổ chức cuộc triển lãm ở Paris đã chịu khó lặn lội đi tìm khắp Việt Nam, mượn được ở các viện bảo tàng Đà Nẵng, TpHồChíMinh và phòng bảo quản Mỹ Sơn đem về Paris trưng bày đủ bộ, chỉ thiếu hai vật cưỡi trên tượng dikpala.

Dikpala, còn được gọi lokapala, là những thần hộ mệnh không gian pala trong vũ trụ luận hindu, nghĩa là những thần bảo vệ bốn phương trời và bốn khoảng xen, hình tượng được thực hiện trong các đền miếu Ấn Độ giáo từ thời Vệ Đà, sau nầy cũng thấy có trong chùa chiền Phật giáo. Để xác định dikpâla, ngoài vật cưỡi, còn có thể xem xét tư thế nhưng ít rõ ràng hơn. Có lúc vật cưỡi vâhana được thay thế bằng những dikgaja là những con voi thần thoại cùng màu với những dikpâla tương ứng  : Airâvata, Pundarika, Vâmana, Kumuda, Anjana, Pushpandata, Sarvabhauma, Supratîka. Về phong cách, những nhà khảo cổ hiện còn do dự để kê các dikpâla vào vào một truyền thống nầy hay truyền thống nọ, tuy nội dung đế chóp Vân Trạch Hòa và vị trí phỏng đoán các vị thần trong đền miếu nay không còn nữa góp phần chứng minh ảnh hưởng tiềm tàng Java lên nghệ thuật Champa. Nếu phong cách nầy xuất hiện ở Java từ thế kỷ IX, nó chỉ tồn tại ở Champa một thời gian ngắn đầu thế kỷ X. Đi xa hơn, có tác giả xác định những dikpâla được chế tác vào đoạn cuối phong cách Đồng Dương, nơi đã phát hiện hình tượng những nữ thiên được chạm cùng bệ tượng liền ngay trên một phiến đá nguyên khối. Đằng khác, ngoài Văn Trạch Hòa và Mỹ Sơn, dikpâla còn được tìm ra ở An Mỹ, Quá Giang thuộc tỉnh Quảng Nam được xem như là trung tâm vương quyền Indrapura, một quyền lực thống nhất ở miền bắc Champa, từ Quảng Ngãi ra đến Quảng Bình. Xem xét được toàn bộ các vị hộ thế phương thiên ở Paris qua những hình tượng dù mất đầu là một may mắn vì về Việt Nam, dù có đi viếng khắp các miền, cũng chỉ có thể ngắm những hiện vật rời rạc.

Vị trí bốn thần Ấn giáo và tám vị Hộ thế phương thiên
trên đế chóp Văn Trạch Hòa
tây bắc  : Vaju
bắc  : Kubera
đông bắc  : Isana
 
VISNU
 
tây  : Varuna
RUDRA
SIVA
đông  : Indra
 
BRAHMA
 
tây nam  : Nirrti
nam : Yama
đông nam : Agni

Trong tín ngưỡng Ấn Độ giáo các vị hộ thế phương thiên được trình bày với nhiều chi tiết hơn các hình tượng Champa.

Indra  : thần hộ vệ phương đông, thần Sấm sét – Lôi thiên, cưỡi con voi trắng Airâvata bốn ngà, gợi lên sức mạnh, thế lực, can đảm của các vị vua, cầm bên tay mặt một cái chùy kim cương vajra. Qua tên gọi Vrtrahan, thần được những chiến sĩ trẻ Maruts tháp tùng. Lúc ấy, thần có quyền lực vừa của một vị tướng, một con bò giống, vừa của một người bạn hào hiệp. Nhưng tiến triển của Ấn Độ giáo dần dần biến vị thần hộ mệnh ấy thành một ông vua các thiên thần rồi một tiểu vương, dành chỗ lại cho các thần Visnu và Siva nhưng vẫn ngự trị với các thần kia trên núi Meru, chính trục của vũ trụ. Nguyên gốc một vị thần mặt trời, lái dẫn một chiếc xe trên bầu trời, khi là dikpâla thần chở nước về mặt đất, được thờ như là thần vật giống, có ngay cả khả năng cứu sống người chết ở chiến trường. Phu nhân của thần là Indrâni, các con là Jayanta, Midhusa, Nilambara, Ribhus, Rsabha, Sitragupta và Arjuna mà mẹ là Kunti. Trong Phật giáo, thần mang tên Shacra tương ứng với vị bồ tát Vajrapani, một nhân vật quan trọng trong Jâkata, Indara bên Nhật, Yintuo-luo bên Tàu, En hay Phra trong tiếng khmer, Inda trong tiếng pâli.


Indra và con voi Airâvata
(Mỹ Sơn A)

Agni  : thần hộ vệ phương đông-nam, thần Lửa - Hoả thiên, cưỡi con tê giác, hay con cừu đực, hai mặt, bảy lưỡi, trong mình chiếu ra bảy tia ánh sáng, hai tay nâng quả địa cầu, một tay cầm cái rìu, một tay cầm hoa sen. Vật cưỡi của thần kết hợp với lữa là yếu tố thứ ba manipura trong bảy chakra chính của Ấn Độ giáo, vì vậy thần Hoả thiên nắm ba chức vụ  : thần Lữa tinh lọc và hy sinh để chuyển đồ dâng cúng lên các thiên thần (thần làm trung gian giữa thiên thần và nhân loại), thần Lữa chiến tranh và tận thế để hủy diệt thế giới nhưng cũng để phục hưng, thần Lữa lò bếp để sưỡi ấm và nấu ăn. Thật ra có mười dạng lữa, năm thiên nhiên, năm nghi lễ  : lữa thường ngày, lữa sấm sét, lữa mặt trời, lữa thâm nhập con người, lữa phá hủy thế giới, lữa khoảng bao la, lữa sanh con, lữa bếp núc, lữa ông cha và lữa giàn thiêu. Trong một đám cưới hindi, thần là chứng tá quan trọng nhất. Trong ngành y khoa hindi sử dụng thảo mộc, thần là một trong ba nhân vật chủ yếu, một trong ba điểm mốc, một trong ba tinh khí cần phải tác động để đạt đến thăng bằng cần thiết cho sức khẻo. Hai phần kia là Mặt trời Sûrya và không trung Vâju. Không phải tình cờ mà một tên lửa của Ấn Độ có khả năng mang bom nguyên tử được đặt tên Agni.


Agni và con cừu đực 
(Mỹ Sơn A)

Yama  : thần hộ vệ phương nam, cưỡi con trâu đen, Diêm vương thiên, tức thần âm phủ có nhiệm vụ xét xử, thưởng phạt những linh hồn xuống cõi âm. Còn được gọi Dharmaraja, thần là vua pháp luật vũ trụ. Con của Vivashvat và Saranyu, thần cưới làm vợ mười cô con gái của Daksha. Thường được trình bày là một người màu lục, hai hay bốn tay, mặc áo đỏ, tay cầm dây buộc pasha, chiếc gậy danda, cái rìu, cái chùy hay dao găm. Thần còn có vợ và cũng là shakti (nghị lực năng động phụ nữ) của thần là cô con song đôi Yami, khi thác trở thành con sông Yamuna, cũng là người hướng dẫn linh hồn kẻ chết đến trước Yama. Trong thần thoại purana, thần là quan tòa, có phận sự như Diêm vương, ghi chép mọi hành động và xét xử con người, gởi lên Thiên đàng Svarga hay đưa về Địa ngục Naraka. Người ta tin sau khi chết, linh hồn mất bốn giờ bốn mươi phút để đến trước Yama nên không được hỏa tán tử thi ngay. Yama có hình dạng khác nhau trước người tốt và người xấu  : thần có thể hiện ra hiền lành, vui vẻ, mắt như hoa sen, nhưng tay chân cũng có thể dài hằng trăm trượng, đầu tóc bù xù, mắt sâu như cái giếng. Yama được trình bày khác nhau tùy theo đạo giáo. Ở Tây Tạng, thần rất dữ tợn, có hai sừng, mang trên đầu một mũ miện đầu lâu, tay múa kiếm. Khi là hộ thế phương thiên, thần nắm vương trượng có đầu lâu hay một tay nắm kiếm, tay kia đầu người.


Yama , thiếu con trâu
(Mỹ Sơn A)

Nirrti  (hay Nairrti) : thần hô vệ phương tây-nam, La sát thiên, cưỡi con á thần lưỡng tính người thú Yaksa nguồn gốc Ấn Độ, có khi cưỡi một xác chết. Hình dáng gầy còm, hốc hác, tượng trưng sự suy tàn, tính tử vong, thần cai trị những rakshâsa ăn thịt người, những bóng ma bhûta và những chứng bệnh. Tên của thần nir-r-ta có nghĩa "thiếu rta" tức là "không tín ngưỡng chẳng lương tâm", dạng nam phái là Rudra. Kinh Rig-Veda nhắc tên thần nhiều lần để cầu bảo hộ hay yêu cầu dời đi. Thần có tóc vàng trong kinh Atharva-Veda  ; da đen, áo quần đậm màu trong kinh Brahmane-Taittiriya. Vùng ngự trị của thần là tây-nam nhưng trong kinh Brahmane-Shataphata thần được phối hợp với sầu muộn và đưa về nam là hướng người chết. Trong đời sống nghệ thuật ngày nay, nhiều nhân vật Ấn Độ giáo đã được đạo diễn  : trong phim Stargate SG-1, thần là một trong những vị Chúa của hệ thống Goa’ulds, Nirriti Đen là một địch thủ của những nhân vật trong truyện Seigneur de la Lumière, lưỡi Nirrti là tên kỹ thuật lối chơi kiếm trong trò vidéo Ninja Gaiden.


Nirrti và con á thần
(Mỹ Sơn A)

Varuna  : thần hộ vệ phương tây, thần Nước - Thủy thiên, cưỡi con ngỗng hamsi, là một trong những thần quan trọng bậc nhất trong đền chư thần Vệ Đà. Ở chức vị "thần bản mệnh rita" (quy phạm vũ trụ), thần có phận sự chăm lo trật tự trong không gian, theo dõi hành động của từng người, thưởng phạt tùy lúc. Để dễ thi hành phận sự khắp mọi nơi, thần có một quyền luật huyền bí mâyâ như gây rối  loạn trong một đoàn quân hay gây điên những người phạm luật. Hai lãnh vực vũ trụ của thần là bóng tối tượng trưng vừa quyền lực mâyâ vừa chức năng giám thị (các ngôi sao là những con mắt của thần) và biển cả tượng trưng vừa quyền lực mâyâ vừa chức năng thưởng phạt (các làn sóng là những cánh tay của thần). Khi làm thần mặt trăng, cưỡi con quái vật macara, thần là một người có da trắng mang một áo giáp bằng vàng, tay nắm một dây thòng lọng là thân một con rắn. Có quyền lực ban tính bất tử, được các nâga là những sinh vật thân người đầu rắn phục vụ, thần phối hợp với nước trở nên thành thần sông ngòi và biển cả, chế ngự linh hồn những kẻ chết đuối, dành mưa bảo cho thần Mitra. Có người tin hoặc lúc trước Varuna và Mitra là một, hoặc nay chia sẻ Varuna giữ chủ quyền siêu tự nhiên còn Mitra giới hạn ở trần gian. Dù sao hai thần bổ sung nầy thường hay được kể chung với nhau trong cuộc kết hợp tay đôi (dvandva) Mitravaruna.


Varuna và con ngỗng hamsa 
(Mỹ Sơn A)

Vaju  : thần hộ vệ phương tây bắc, thần Gió, Phong thiên, ở Ấn Độ cưỡi con linh dương, ở Champa cưỡi con ngựa, tay cầm cờ, có khi cưỡi con linh dương như ở Mỹ Sơn nhóm B hay ở đế chóp Văn Trạch Hòa. Linh dương, lanh như gió, là yếu tố thứ ba anahata trong bảy chakra chính của Ấn Độ giáo. Được nói đến lần đầu tiên trong kinh Rig-Veda, thần mang tên Vata. Trong sự tích Mahâbhârata, thần là thân sinh Bhima, người thứ hai trong mấy anh em Pândava. Trong sử thi thần thoại Râmayana, con khỉ Hanuman, bạn của Rama, được cho là con của thần nên có đủ sức vượt biển qua Tích Lan. Như đã thấy ở trên, trong ngành y khoa hindi sử dụng thảo mộc, thần và Sûrya, Vâju là ba nhân vật chủ yếu, một trong ba điểm mốc, một trong ba tinh khí cần phải tác động để đạt đến thăng bằng cần thiết cho sức khẻo. Được xem như là khí thế của thần linh, thần đi đâu cũng được mà chẳng ai thấy. Thần ban ơn huệ, của cải cho những ngưòi thờ thần, xua đuổi người thù, đồng thời bảo vệ kẻ yếu.


Vaju và con ngựa 
(Mỹ Sơn A)

Kubera  : thần hộ vệ phương bắc, thường không có vật cưỡi, thần Tài lộc, Tỳ sa môn thiên. Thần chỉ được biết vào đoạn sau thời kỳ Vệ Đà. Xem như là thủ lĩnh mọi thần linh ở âm phủ và trong bóng tối, mang tên Vaishravana, thần là một trong bốn vị Đại vương Tứ phương Chaturmahârâja, tượng trưng mùa đông, biết nghe mọi chuyện. Đứng đầu quân binh Yaksha và Guhyaka canh giữ kho tàng của trái đất, Kubera là thần Của cải. Mẹ của th ần là Idavida, chị của thần là Surpanakha. Thần cưới Bhadra làm vợ. Con gái của thần là Minakshi, vị nữ thần có Mắt Cá, thờ ở miếu Madurai như là phu nhân của Shiva Sundareshvara. Thường thần được hình dung là một người lùn có bụng lớn. Có khi thần có đến ba đầu, một mắt độc nhất và đeo đầy đồ châu báu, cưỡi con ngựa hay con cua nhả ra nhiều đồ trang sức. Cũng thất thần đeo một túi tiền chứa "chín vật quý nidhi" như hoa sen và cái vỏ ốc sankha. Trong Phật giáo, thần trở nên một vị thần linh nhỏ hơn tuy còn có nhiệm vụ canh giữ chân trời và bảo vệ Luật pháp, được trình bày như một chiến sĩ dữ tợn.


Kubera ,không có vật cưỡi
(Mỹ Sơn A) 

Isâna  : thần hộ vệ phương đông bắc, cưỡi con bò, Đại tự tại thiên, là một dạng đăc thù của Siva, tuy không có con mắt thứ ba, không cầm đinh ba, thường có theo sau một vị tu khổ hạnh hốc hác. Thần tượng trưng cho kiến thức siêu việt. Theo Vaastu Shastra, thần còn biểu trưng cho thịnh vượng. Trong truyền thống hindou, phương bắc biểu thị sức khỏe và hạnh phúc, còn phương đông biểu thị kiến thức và hòa bình, Isâna phối hợp hai tinh thần đó. Hình tượng trưng bày là một trong di tích được bảo quản tốt nhất, không mất đầu như hình tượng Kubera, gảy tay. Đằng khác, kỹ thuật chạm trổ tinh vi giữa thế kỷ 10, nét mặt nhu mì, phóng túng phong cách Đồng Dương mà điễn hình là hình tượng nữ thần Hương Quế với bộ mặt tươi cười vừa đầy nhân tính vừa đượm vẻ thần linh, tuy gần nhưng xa, tuy nằm trong tầm tay nhưng biết bao khó đạt, đã làm xiêu lòng biết bao nhà khảo cổ  !


Isâna , thiếu con bò
(Mỹ Sơn A)

Đế chóp Vân Trạch Hòa phát hiện ở huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên tình cờ đã góp phần vào việc xác định hình tượng tám vị hộ thế phương thiên Champa chế tác đầu thế kỷ X. Nói cho đúng, chỉ có năm vị được biết chính xác, vị thứ sáu có nhiều xác suất đúng, hai vị còn lại trong vòng giả thiết. Henri Parmentier còn tìm ra một vị thần nữ thứ chín không biết kê vào đâu, trừ phi là phu nhận một trong tám vị kia. Cũng như hai vị hộ vệ hai phương đông và tây vì không có một miếu nào được tìm ra để chỉ rõ vị trí. Có thể, như thường thấy ở Ấn Độ, họ không có vi trí nhất định và được đặt chỗ tùy cần thiết thực tiễn. Nói chung, tất cả các vị không được xác định một cách chính xác và vị trí của các thần trong một ngôi miếu cũng chẳng biết được rõ ràng. Bước đầu tìm hiểu các vị dikpâla được thế nầy đã là một kết quả đáng khuyến khích. 

Xô thành thu đông 2017
(*) Pierre Baptiste, Quản đốc bảo tàng Viện Bảo tàng Á Đông Guimet
Thierry Zéphir, Đặc nhiệm nghiên cứu Viện Bảo tàng Á Đông Guimet
Jean-François Jarrige, Giám đốc Viện Bảo tàng Á Đông Guimet

(**) Võ Quang Yến, Cổ vật Champa ở viện Bảo tàng Guimet, Chim Việt Cành Nam (chimviet.free.fr) 67 01.07.2017

Đọc Thêm  :

- Pierre Baptiste, Gardiens de l’espace (dikpala), Trésors d’art du Vietnam – La sculpture du Champa, Musée national des Arts asiatiques, Paris (2005-2006)  ; Le piédestal da Van Trach Hoa, un bali-pĩtha d’un type inédit, Arts Asiatiques 58 (2003)

- Trần Kỳ Phương, Di tích mỹ thuật Champa ở Thừa Thiên Huế, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(41) 2003  ; Phù điêu hộ thế bát thiên vương của đế chóp tháp Vân Trạch Hòa và hình tượng hộ thế phương thiên trong điêu khắc Champa, Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển số 3(33) 2001