[  Trở Về   ]  *  [  Tác giả   ]

Thơ Võ Chí Trường

Nhập cuộc 
Chấp nhận ồn ào thì nhập cuộc .
Không thích thì thôi
Không biết thì đừng .

Tôi ngu ngơ như gã người rừng 
Khi bạn bè kéo vào đám nhậu
Khi người đẹp ngồi bên rót rượu
Chưa nâng ly mặt đã nóng bừng .

Người phố chợ thích ăn thịt thú rừng .
Và nói rất to những lời hoang dã 
Và hát rất to những bài hát lạ 
Có rượu vào mọi thứ lạ thành quen .

Tôi đặt ly nhìn vào mắt em
Em rót rượu 
Sao mắt em buồn thế ?
Đám nhậu ồn ào
Mà em thì e lệ 
Hay em cũng như tôi
Cũng ngu ngơ giữa phố chợ - thị trường.

Người phố chợ thích ăn thịt thú rừng 
Và thích uống rượu rót từ bàn tay sơn nữ.
Những sơn nữ đi từ thành phố 
Lên đây kiếm việc làm!

Tôi đã say đâu mà đám nhậu đã tàn
Trăng nghiêng mái lều phố chợ
Trăng soi đường tôi về nhà với vợ
Bước liêu xiêu tôi ca khúc độc hành
Tình bằng có cái trống cơm.

Hà Nội, đêm 14 mai rằm tháng Bảy năm 2001
Tích chèo
Tích chèo có tự bao giờ 
Mà kẻ dân quê 
thì mang những cái tên Nghêu - Sò - Ốc - Hến 
Còn một lũ thầy đề, quan huyện
Có chức có quyền sao chẳng có tên riêng.

Tích chèo xưa nào dễ ai quên
Đội văn nghệ làng ta 
định tập vở chèo Nghêu - Sò - Ốc - Hến 
Biết chọn ai sắm vai quan huyện
Ai chịu bôi râu làm lão thầy đề
Ai đóng vai mấy kẻ dân quê 
Kẻ ăn trộm  kẻ làm thầy bói 
Đã mang tên của loài không biết nói 
Còn giám cãi lời quan để bị đánh đòn. 

Hãy chọn một xã viên vừa đẹp vừa dòn 
Sắc sảo khôn ngoan đóng nàng Thị Hến 
Lột mặt mo lũ thầy đề, quan huyện 
Dưới ánh đèn văn nghệ làng ta.

Nha Trang, mùa Hạ 1986
Nói với nàng Tô Thị
Đứng cao hơn đỉnh Tam Thanh
Bóng trùm xuống lũy thành Nhà Mạc
Thiếu phụ bồng con ngóng chồng nơi ải Bắc
Tô Thị nàng ơi !
Hóa đá tự bao giờ ?

Ngóng thương chồng sao nỡ để con thơ
Cùng kiếp mẹ hóa vào kiếp đá
Mẹ hóa đá mẹ vẫn là mẹ góa
Con hóa đá rồi con vẫn mồ côi.

Tam Thanh Xứ Lạng, 
tiết Thanh Minh 1979
 
Làm dâu Hà Tĩnh
Kẹo Cu đơ mua từ Cầu Phủ
Về Kỳ Anh ăn với bánh tày Voi
Đọi nước chè xanh xóm giềng đông đủ
Nắng trưa hè mà ai cũng mang tơi.

Làm dâu Hà Tĩnh theo anh về xứ Voi
Mặc ngọn gió Lào ngang tàng cuốn bụi
Hoa chạc chìu vẫn ngát thơm triền núi
Tiếng chim đa đa dẫn lối qua đèo.
Làm dâu Hà Tĩnh chẳng cam phận nghèo
Nước mặn đồng chua, đất cằn nắng lửa
Gồng hai vụ oằn thân cây lúa
Có phải đất nào cũng năm tấn cả đâu!

Làm dâu Hà Tĩnh chưa vội làm giàu
Bền chí thoát nghèo nuôi chồng con ăn học
Khoai đỗ chiêm mùa quản chi khó nhọc
Nhờ đỗ nhờ khoai mà thi đỗ cả nhà.

Hà Tĩnh, mùa dâu chín 1999
Thương lắm Thị Mầu ơi!
Làng phạt vạ em là phải lắm rồi
Ngày nớ (1) lệ làng ta là rứa
Mà tình em thì như ngọn lửa
Cháy bùng lên khao khát hồn nhiên.

Lẳng lơ tìm trái cấm cửa thiền
Giải yếm đào ngây thơ buông lỏng
Tiếng chuông chùa đồng vọng
Cái đêm mười bốn, mai rằm.

Làng ăn vạ em nào có ngon lành
Chén rượu lạt cầm lên rồi đặt xuống
Tiếng nghé ọ lạc bầy ngoài ruộng
Hương lý, trương tuần ngao ngán nhìn nhau
Nỏ ai thốt nên câu (2)
Ngó quanh chỉ còn thằng Nô đần ở đợ
Đinh tráng làng ta ra trận hết rồi.

Thương em
Oan em lắm Thị Mầu ơi!

Ngàn Hống - Hà Tĩnh, Xuân 2007
Chú thích tiếng Nghệ Tĩnh:
1. Ngày nớ lệ làng ta là rứa: Ngày ấy lệ làng ta là vậy
2. Nỏ ai thốt nên câu: Chằng ai nói nên lời
Về Cổ Đạm
Rau lang mắm cáy lên bàn tiệc
Canh hến vị gừng làm ấm bụng doanh nhân
Kẹo Cu đơ cũng có tên thương hiệu
Mỗi câu Kiều dự báo kiếp trầm luân.

Nhà đầu tư về quê vợ Nghi Xuân
Nghe nói "cà có đuôi" mà "cá thì có cuống"
Mới biết núi Hồng Lĩnh còn có tên Ngàn Hống
Đọi (1) nước chè xanh rộn vỡ tiếng cười.

Bến Giang Đình đò ngược đò xuôi
Tiếng máy nổ chen ngang câu ví dặm
Sau luỹ tre làng Cổ Đạm
Điệu ca trù phách nhịp vẫn trinh nguyên.

Ngó bên tê (2) đồng
Gió nam cào cuốn bụi đất Xuân Viên
Ngong bên ni (3) đồng
Sóng bể tràn chân đê Hội Thống
Ngước lên vầng mây lành Ngàn Hống
Thoáng bóng văn nhân ngất ngưởng lưng bò

Bến quê còn vọng câu hò
Ai biết nước sông Lam răng là trong là đục (4)
Trai Cương Gián gồng mình sang Hàn Quốc
Chưa giàu cũng nỏ chịu thua ai.

Chốn địa linh sinh dưỡng nhân tài
Nhân tài quê choa thời mô cũng có (5)
Bền chí thoát nghèo vượt khó 
Nhân tài tung cánh muôn phương.

Cúi đầu dâng nén tâm hương
Trước bàn thờ nhà thơ - quốc công mở cõi
Nhẩm điệu ca trù
Nước mắt nhòa sương khói
Sắc cầu vồng trên Ngàn Hống vươn cao.

Ngàn Hống - Hà Tĩnh, Xuân 2001
Chú thích tiếng Nghệ Tĩnh:
1. Đọi: Cái bát
2. Ngó bên tê đồng: Nhìn bên kia đồng
3. Ngong bên ni đồng: Trông bên này đồng
4. Răng là trong là đục: Thế nào là trong, là đục
5. Nhân tài quê choa thời mô cũng có: Nhân tài quê chúng tôi thời nào cũng có
Tang chứng
Tháp chuông không còn nữa
Bom Mỹ phá đi rồi
Ảnh Đức Bà bến lửa
Chúa trở thành mồ côi
Thượng Lộc Hà Tĩnh, mùa Hạ 1967
Trăng xóm Trầm
Điện cúp có trăng rằm
Xóm Trầm vui như hội
Mé Đoài còn khoảng tối
Phía Đông tràn ánh ngà.

Tiếng cười vang nhà nhà
Bước chân vui ngõ ngõ
Trước thềm trăng đón gió
Nụ hoa quỳnh dâng hương.

Xóm Trầm, Rằm Trung thu 2006
Về Ngàn Hống
Tưởng nhớ nhà thơ - quốc công
Nguyễn Công Trứ
Nhổ toẹt vào cái bả phù danh
Xáo voi nước ốc trả kinh thành
Cưỡi bò ngất ngưởng về Ngàn Hống
Ngẩng mặt cười khà với trời xanh
Ngàn Hống - Hà Tĩnh, Xuân 2002
 
Về Đình Bảng
Còn duyên kẻ đón người đưa
Câu quan họ dẫn tôi về Đình Bảng
Gió mơn cành trúc la đà
Chiều vãn nắng
Thời a còng ( @ ) ai tìm lá diêu bông.

Bờ xôi ruộng mật cắm mốc bê - tông
Ao làng mọc lên nhà thủy tạ
Gò đống bãi hoang càng được giá
Tấc đất tấc vàng

Làng trong phố, phố trong làng
Làng đã thành di sản
Không chợ cũng dập dìu mua bán
Váy ngắn, váy chùng làm khổ ngọn gió đông.

Câu hát nào neo đậu bến sông
Ngồi tựa mạn thuyền
Khát nỗi chờ mong
Trai xứ Nghệ say tình người quan họ.

Đám hội ngày ấy tương phùng
Biết đến bao giờ đôi ta tương ngộ
Ngún ngọn lửa lòng
Để ngày về cháy bùng lên nỗi nhớ
Hội Lim con nhện giăng mùng
Người ơi!

Giếng thơi xưa lấp mất rồi
Còn đâu đôi bóng khoảnh trời trong veo.

Ngõ trúc chiếc lá bay vèo
Cổng xây tường bao kiên cố
Nhà treo biển số
Em lấy chồng xa
Thầy mẹ đã về cùng tiên tổ
Rưng rưng tôi thắp nén hương lòng.

Sông Cầu - Kinh Bắc, Đông 2002
Đêm Tây Hồ 
Liu riu cơn mưa tạnh
Se se gió Tây Hồ
Khói sương vương ngõ hạnh
Tròng trành vành trăng ngâu.

Gác mái bóng thuyền câu 
Mệt nhoài neo bến vắng
Người đẩy xe rác nặng 
Mồ hôi đầm hơi thu.

Man mác điệu ca trù
Phách nhịp hồn sâu lắng
Ánh lửa hàn lóe sáng
Lung linh gương Tây Hồ.

Hà nội, Thu 2004
Ải chiều
Bắt được một nhúm tép riu
Cơm chiều chống đũa buồn thiu nhớ nhà
Xiên ngang cửa ải nắng tà
Tiếng chim bắt tép kho cà trêu ngươi
Cao Lộ̣c - Xứ Lạng,
 mùng 9 tháng Chí́n năm 1979
Ta tiễn ta
Người tiễn người đi, rộn sân ga
Thả bước một mình ta tiễn ta
Ba lô xèm xẹp, vai nằng nặng
Cơm nắm còn hơi ấm tay cha.

Mấy ngày nghỉ phép như gió thoảng
Chẳng kịp chằm tranh dói mái nhà
Cha già, mẹ yếu, em thơ dại
Đành mím chặt môi lên ải xa.

Phí hoài ngày phép lỡ làng qua
Băm mốt, băm hai chửa biết già
Tiếng cô hàng xóm đi qua ngõ
Áo lính bền chi chỉ đường tà!

Tàu đi để lại sân ga lạnh
Con đi trống vắng cả chái nhà
Ba lô xèm xẹp, vai nằng nặng
Cơm nắm muối vừng chan lệ sa.

Vinh, tháng Mười 1980
Đến Vạn Lý Trường Thành
Chỉ cần đổi mấy đồng bạc tệ
Làm khách bước trên giải Trường Thành
Cần chi hảo hán xưng vương bá
Nhốn nháo tranh giành bả phù danh.

Hảo hán mô như hảo hán Tàu
Thời mô cũng có, có từ lâu
Quốc loạn cũng vì nhiều hảo hán
Chú Thủy Hoàng kia tội đứng đầu. 

Mấy lần đốt sách đày nhân sỹ 
Hành hạ bao nhiêu kiếp dân lành 
Mấy triều nuôi mộng bình thiên hạ 
Tội ác nhiều hơn đá Trường Thành.

 Hảo hán thời nay xài vi tính 
 Xây đường cao tốc, mở sân bay
 Tay lật tay xoay đồng bạc tệ 
 Miệng hát gió Đông bạt gió Tây. 

Vạn Lý Trường Thành - Bắc Kinh,
tháng Mười 1989
Mô rồi ?
Trời trong veo , nước trong veo
Nỏ thấy (1) mái chèo trên dòng Hương Giang

Ồn ào đò dọc đò ngang
Tiếng máy nổ, vết dầu loang đôi bờ

Mô rồi (2) Huế mộng, Huế mơ
Dáng em buông mái chèo xưa mô rồi ?

Trường Tiền ơi, Vĩ Dạ ơi !
Tiếng loa dịch vụ át lời dân ca
Thuyền về Cồn Hến , thuyền đến Đông Ba
Mái nhì thì ngắn, lam-bat-đa thì dài.

Sông Hương, núi Ngự chiều nay
Ngược dòng nhẩm khúc nam ai buồn buồn.

Huế, Thu 1984
Chú thích:
1. Nỏ thấy: Chẳng thấy
2. Mô rồi: Đâu rồi

 
Về Huế
Lỡ tay làm rớt giọt rượu xuống dòng Hương
Tội nghiệp vành trăng chếnh choáng
Nhịp mái nhì mênh mang ngắt quãng
Khúc nam ai nghèn nghẹn buồn buồn.

Thuyền nan gác mái nằm suông 
Mớn nước tủi hờn đáy thuyền óc ách
Ca sĩ hát không đờn không phách
Vũ nữ khoả chân đánh nhịp mạn thuyền.

Với sông Hương tôi không có duyên
Với Phu Văn Lâu tôi là người lỡ hẹn
Với em tôi là thuyền không bến
Ngược xuôi bươn chải cũng bằng thừa.

Không một lời từ biệt tuổi thơ
Sáng bữa nớ ra đi nỏ ai đưa
Chiều ni về tìm mô người đón
Bài thơ xưa
Chừ có còn trong vành nón?
Mô rồi?
Mô rồi người ơi!

Trăng ngả sang đoài
Trăng theo thuyền trôi chơi vơi
Giọng hồ khoan vọng dài Cồn Hến
Khi bình minh thuyền tìm về bến
Phía Đông Ba lanh lảnh tiếng rao hàng.

Huế, tháng Sáu 2001
 
Nhạc phẩm bán rong
Tặng nhạc sĩ Tố Hải, tác giả bài hát
 "Sông Đắc Roong mùa xuân về" 
Vai mang chiếc túi cà tàng
Một tay vuốt dọc cây đàn ghi ta
Một tay xòe tập bài ca
Anh rao: " Nhạc phẩm mới ra. Kính mời!"

Thương anh mà nhớ một thời
Đạn bom không át nổi lời anh ca.
Từ trong khói lửa bước ra
Ba lô xẹp, cây ghi ta phím sờn.
Vẫn vang âm hưởng Trường Sơn
Ai so sánh chuyện áo cơm mặc người .

Tim say khúc nhạc dâng đời
Sông Đắc Roong mãi rạng ngời mùa xuân
Phố phường anh vẫn hành quân
Với đồng đội, với nhân dân, với đời.

Hiên ngang bước giữa chợ giời
Anh rao: " Bài mới, kính mời! Ai mua!"

Nha Trang, tháng Tư 2000
Trước Phu Văn Lâu
Từ đó sang đây mấy nhịp cầu 
Rứa mà lỡ hẹn, rứa chờ nhau
Trường Tiền không thấy tà áo tím 
Chỉ thấy mưa hoài Phu Văn Lâu .
Huế, tháng Tám 1998
Súng thần công
Súng đi mua
Đạn cũng đi mua 
Sức mạnh của triều vua
Gửi gắm nơi nòng súng.

Tiếng nổ to 
Kinh thành rung động 
Bắn thử cho vua coi 
Đạn rớt trước sân rồng.

Súng bằng sắt 
Đạn bằng đồng
Rứa mà được phong tước thần công.
Cuộc bán mua này có phế phẩy chi không?
Sử sách không ghi
Chắc có điều tế nhị
Mấy ông tượng đất nung im lặng trước sân triều.

Đại Nội - Huế, tháng Mười 1977
Trước đền thờ An Dương Vương
Lối xưa lông ngỗng không rơi nữa 
Đám bụi Triệu Đà khuất nẻo xa
Bia miệng thế gian ghi vạn thuở 
Nhắc cái tội vua chứa rể tà.
Xứ Nghệ, 1978