Trở Về   ]         [  Tác giả  ]   
Phạm Thảo Nguyên giới thiệu và bình chú
( tức Thảo Nguyên )
Long Thành Cầm Giả Ca
龍城琴者歌

Nguyễn Du


 
Long Thành Cầm Giả Ca

龍城琴者歌

龍城佳人
姓氏不記清
獨擅阮琴
舉城之人以琴名
學得先朝宮中供奉曲
自是天上人間第一聲
余憶少年曾一見
鑑湖湖邊夜開宴
其時三七正芳年
紅裝晻曖桃花面
酡顏憨態最宜人
歷亂五聲隨手變
緩如疏風渡松林
清如隻鶴鳴在陰
烈如薦福碑頭碎霹靋
哀如莊舄病中為越吟
聽者靡靡不知倦
便是中和大內音
西山諸臣滿座盡傾倒
徹夜追歡不知飽
左拋右擲爭纏頭
泥土金錢殊草草
豪華意氣凌公侯
五陵少年不足道
并將三十六宮春
活做長安無價寶
此席回頭二十年
西山敗後余南遷
咫尺龍城不復見
何況城中歌舞筵
宣撫使君為余重買笑
席中歌妓皆年少
席末一人髮半華
顏瘦神枯形略小
狼藉殘眉不飾妝
誰知就是當時城中第一妙
舊曲新聲暗淚垂
耳中靜聽心中悲
猛然億起二十年前事
鑑湖席中曾見之
城郭推移人事改
幾處桑田變滄海
西山基業盡消亡
歌舞空遺一人在
瞬息百年能幾時
傷心往事淚沾衣
南河歸來頭盡白
怪底佳人顏色衰
雙眼瞪瞪空想像
可憐對面不相知
 

Long Thành Cầm Giả Ca,

Long Thành giai nhân
Tính thị bất ký thanh
Độc thiện Nguyễn Cầm*
Cử thành chi nhân dĩ Cầm danh
Học đắc tiên triều cung trung Cung Phụng khúc
Tự thị thiên thượng nhân gian đệ nhất thanh
Dư ức thiếu thời tằng nhất kiến
Giám Hồ** hồ biên dạ khai yến
Kì thời tam thất chính phương niên
Hồng trang yểm ái*** đào hoa diện
Đà nhan hám thái tối nghi nhân
Lịch loạn ngũ thanh tuỳ thủ biến
Hoãn như sơ phong độ tùng lâm
Thanh như song hạc minh tại âm
Liệt như Tiến Phúc bi đầu toái tích lịch
Ai như Trang Tích bệnh trung vi Việt ngâm
Thính giả mỹ mỹ bất tri quyện
Tiện thị Trung Hoà Đại Nội âm
Tây Sơn chư thần mãn tọa tận khuynh đảo
Triệt dạ truy hoan bất tri bão
Tả phao hữu trịch tranh triền đầu
Nê thổ kim tiền thù thảo thảo
Hào hoa ý khí lãng vương hầu

Ngũ Lăng**** thiếu niên bất túc đạo
Tính tương tam thập lục cung xuân
Hoạt tố Tràng An vô giá bảo
Thử tịch hồi đầu nhị thập niên
Tây Sơn bại hậu dư nam thiên
Chỉ xích Long Thành bất phục kiến
Hà huống thành trung ca vũ diên
Tuyên Phủ*****sứ quân vị dư trùng mãi tiếu
Tịch trung ca kỹ giai niên thiếu
Tịch mạt nhất nhân phát bán hoa
Nhan xấu thần khô hình lược tiểu
Lang tạ tàn mi bất sức trang
Thuỳ tri tựu thị đương thời thành trung đệ nhất diệu
Cựu khúc thanh thanh ám lệ thuỳ
Nhĩ trung tĩnh thính tâm trung bi
Mãnh nhiên ức khởi nhị thập niên tiền sự
Giám Hồ tịch trung tằng kiến chi
Thành quách suy di nhân sự cải
Kỷ xứ tang điền biến thương hải
Tây Sơn cơ nghiệp tận tiêu vong
Ca vũ không di nhất nhân tại

Thuấn tức bách niên năng kỷ thì
Thương tâm vãng sự lệ triêm y
Nam Hà quy lai đầu tận bạch
Quái để giai nhân nhan sắc suy
Song nhãn trừng trừng không tưởng tượng
Khả liên đối diện bất tương tri.
 

Bài Ca Nàng Cầm Ở Long Thành

Người đẹp Long Thành
Tên họ chẳng ghi lại rõ rành
Giỏi nhất đàn Nguyễn Cầm
Trong thành quen gọi Cô Cầm, nên danh
Học được trong cung triều xưa khúc Cung Phụng Tưởng như trên trời dưới thế tuyệt vời âm thanh
Nhớ ta thuở trẻ từng thấy đến
Bên bờ Hồ Giám đêm tiệc yến
Áo hồng chìm dưới mặt hoa đào
Mới vừa hai mốt mùa xuân điểm
Đáng yêu má rượu đỏ hây hây
Thoắt chuyển năm âm tay lướt biến
Tiếng khoan như gió thoảng rừng thông
Trong như đôi hạc kêu đêm không
Mạnh như sét đánh tan bia đá
Buồn như Trang ốm Việt ngâm nồng
Người nghe say sưa không biết mệt
Đúng là Trung Hoà Đại Nội Cung Phụng khúc
Quan khách Tây Sơn thoả thích ngồi ngất ngây
Ham vui không chán năm canh suốt
Tả hữu tranh nhau gieo thưởng tiền
Bạc vàng như đất vung như rác
Hào hoa sang cả át vương hầu

Thiếu niên Ngũ Lăng thấm vào đâu !
Mình nàng ba mươi sáu cung xuân đúc
Long lanh vô giá Thăng Long bảo châu
Đêm hát đã qua hai chục năm
Tây Sơn thất bại, ta vào nam
Gang tấc Long Thành chẳng thấy lại
Nữa là Hồ Giám chiếu ca ngâm
Đêm nay Tuyên Phủ vì ta mở tiệc mua vui vời ca kỹ
Đầy chiếu đào nương tuổi xuân thì
Cuối chiếu có nàng tóc pha bạc
Võ vàng nhỏ bé mặt ủ ê
Sắc tàn mi úa không trang điểm
Ai biết đương thời tài hoa đệ nhất chốn Kinh kỳ?
Thánh thót khúc xưa ẩn lệ rơi
Lọt tai, lắng tiếng, dạ bồi hồi
Bỗng nhiên nhớ lại hai mươi năm về trước
Hồ Giám đêm hát từng thấy người
Thành quách tàn đi, người thay đổi
Bao nhiêu ruộng dâu thành biển khơi
Cơ nghiệp Tây Sơn tan tành hết
Đào nương còn đó một nàng thôi

Trăm năm thoáng chốc đáng bao nhỉ ?
Đau lòng ướt áo lệ trào mi
Nam Hà trở lại ta trắng tóc
Lạ gì người đẹp sắc phai đi
Đôi mắt trừng trừng lòng tưởng nhớ
Thương ôi đối diện chẳng biết gì !

Bình Chú:

Long Thành tức thành Thăng Long, từ thời Tây Sơn cũng như lúc này dưới triều Nguyễn, đều được gọi là Bắc Thành, vì Kinh Đô đã chuyển vào Phú Xuân.

* Nguyễn Cầm : đàn nguyệt

** Giám Hồ: Hồ ở gần Quốc Tử Giám, Văn Miếu. Xưa kia, vùng này có một loạt hồ thông nhau tổng cộng rộng hơn Hồ Tây, hiện nay hãy còn di tích hồ Văn.

*** Yểm ái: Ám mạo, nghĩa là bị mờ đi (theo Nguyễn Quảng Tuân NDTT).

**** Ngũ Lăng: Năm ngôi mộ vua Hán ở gần Tràng An nơi bọn tài tử tuổi trẻ nhà giầu thường đến chơi.

***** Tuyên phủ: Trấn Thủ Bắc Thành.

Mở đầu bài Long Thành Cầm Giả Ca, Nguyễn Du viết một bài Tiểu Dẫn văn xuôi. Trong đó, mô tả sắc đẹp, tính cách của nàng Cầm và những lần ông gập gỡ nàng. Ngoài hai lần đầu và cuối tả trong bài thơ, còn có những lần, ông được nghe nàng đàn hát ở nhà anh ông ở Thăng Long thời Tây Sơn. Sau cùng, là những xúc động khi gập lại nàng Cầm tiều tụy bây giờ, vì vậy ông làm bài thơ này.

Sau bao ngày luân lạc, bây giờ đây Nguyễn Du đường đường là một vị đại quan sứ thần cầm đầu sứ đoàn nước nhà sang Trung quốc. Khi đi ngang qua Bắc Thành, trong đêm tiệc chiêu đãi của Tuyên Phủ, thoảng nghe tiếng đàn trổi bài nhạc cũ, ông lắng tai chú ý, lập tức lòng riêng bồi hồi nhớ lại:

Bỗng nhiên nhớ lại hai mươi năm về trước
Hồ Giám chiếu hát từng thấy người.

Đólà nàng Cầm ngày xưa, xinh đẹp lộng lẫy, long lanh như hạt ngọc báu giữa Thăng Long. Tiếng đàn tuyệt vời của nàng vượt lên hết các âm thanh trên đời, hoàn hảo dưới đôi tay danh cầm lịch lãm:

Thoắt chuyển năm âm tay lướt biến

Bao nhiêu người say mê, nhất là các quan khách hào sảng Tây Sơn. Ôi, triều đại Tây Sơn, triều đại đã đại phá hai mươi vạn quân Thanh, nhưng đồng thời, họ cũng đạp đổ tiêu tan thể chế vua Lê chúa Trịnh mà Nguyễn Du đã sống. Họ là kẻ thù của ông thời đó. Chính ông đã nhiều lần muốn tham gia vào việc nổi dậy chống lại họ. Thế mà, sự sụp đổ của họ đã làm ông đau lòng.

Giờ đây, trong bữa tiệc của Tuyên Phủ, ông nhìn nàng Cầm tang thương dâu bể, trong cơn tiêu vong của cơ nghiệp Tây Sơn Quang Trung Nguyễn Huệ lẫy lừng. Cả một triều đại kiêu hùng hào sảng vinh quang đến tột vời... Vậy mà, trong phút chốc đã không còn gì nữa hết. Ôi, ngồi kia là người đào nương nhân chứng duy nhất đang tấu lại khúc đàn xưa. Tiếng đàn tuyệt vời ngày cũ đang thánh thót, ngân nga. Nhưng, tiếng đàn hôm nay ấp ủ những đau đớn ê chề, những giọt lệ chôn dấu nghẹn ngào:

Thánh thót khúc xưa ẩn lệ rơi
Lọt tai, lắng tiếng, dạ bồi hồi...

"Kẻ thù ta cũng chỉ là người", cũng trải qua hết mọi vui xướng, mọi đắng cay. Thương biết bao nhiêu, đồng cảm biết bao nhiêu! Nước mắt chứa chan, với tâm từ bi, thi nhân khóc cho nhân thế, khóc cho cuộc bể dâu, khóc cho kẻ cựu thù, khóc cho nàng Cầm bé nhỏ ủ ê, tàn phai không còn chút dáng vẻ nào của những ngày tươi đẹp huy hoàng cũ:

Tất cả nỗi thương tâm đúc kết vào hai câu thơ của vị sứ thần thi sĩ:

Cơ nghiệp Tây Sơn tan tành hết
Đào nương còn đó một nàng thôi

Riêng Nguyễn Du, khi chấm hết bài thơ ông ngơ ngẩn mơ về lúc ngồi trên chiếu tiệc, có nàng Cầm vừa đó:

Đôi mắt trừng trừng lòng tưởng nhớ
Thương ôi, đối diện chẳng biết gì !

Trong câu thơ cuối cùng này Nguyễn Du cho là lúc ngồi trên chiếu tiệc đó, hai người cùng không nhận ra nhau. Tôi cho rằng không phải, cô Cầm có nhận ra Nguyễn Du ! Làm sao một nghệ sĩ như cô, mà có thể quên được người tri âm tuyệt diệu là Nguyễn Du ngày trước! Tri âm khó có đến hai người, hơn nữa hôm nay, thi hào chính là người khách chính của buổi tiệc, cả dinh Trấn Thủ ai chẳng xì xào bàn tán về quan chánh sứ, một người của Thăng Long thuở trước. Thế nhưng, cô Cầm có gan đền mấy cũng không dám đứng lên nhân bạn, cô phải câm lặng, và chỉ có thể bộc lộ bằng ngón đàn của mình, cho nên, tiếng đàn mới rung động dường ấy, mới thấm thía dường ấy... và thi hào Nguyễn Du, thật xứng đáng là người tri âm, vừa nghe thấy tiếng đàn trổi bài nhạc ngày xưa đã:

Lọt tai , lắng tiếng dạ bồi hồi..

Sau buổi tiệc, ông đã dò hỏi để được biết chính là người cũ, ông đã viết bài thơ tuyệt tác này về nàng.

Riêng cá nhân Nguyễn Du khi viết bài ca tụng quân thần Tây Sơn hào sảng, thương xót họ đã bị tiêu tan cơ nghiệp, ông đã thật can đảm, ngang nhiên không e sợ lệnh của vua Gia Long: Phá lăng, đào mộ, bỏ tù xương cốt, huỷ bia đá, gia hình giết tù binh thất thế quá tàn nhẫn, cũng như cấm nhắc tới nhà Tây Sơn.
 

Phạm Thảo Nguyên